Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2022

Bản Chất Của Giáo Pháp - Ngài AJAHN CHAH

 


Bản Chất Của Giáo Pháp

Một cội cây ăn trái trổ hoa đầy cành. Thỉnh thoảng một ngọn gió nhẹ nhàng thoáng qua, thổi bay rải rác xuống đất những tai hoa đang tung nở. Vài nụ còn trên cây, nở ra thành trái non. Ngọn gió khác thổi qua, cùng thế ấy làm một vài trái xanh rơi rụng. Trên cành vẫn còn những trái khác gần già hoặc đã già và những trái đã chín mùi, chờ ngày lìa cành.

Con người cũng cùng một thế ấy. Cũng như hoa và trái trước những cơn gió của đời sống con người cũng rơi rụng vào nhiều lứa tuổi khác nhau. Có trẻ con chết từ khi còn trong bụng mẹ. Những em bé khác lìa đời chỉ vài ngày sau khi được sanh ra. Những em khác nữa sống vài năm rồi ra đi. Cũng có những thanh thiếu niên, nam hay nữ, chết trong tuổi xuân xanh, và những vị khác, niên cao tuổi lớn, tuy đã già yếu mà vẫn còn thọ, nhưng rồi cũng sẽ cất bước lên đường.

Trong khi suy gẫm về kiếp nhân sinh, ta hãy nghĩ nhớ đến bản chất phù du của hoa và trái trước gió -- cả hai đều rất bấp bênh, bất ổn định, không có gì chắc chắn.

Bản chất bấp bênh không bền vững nầy cũng có thể được thấy trong đời sống ở các tự viện. Vài người đến chùa với ý định xuất gia, lắm khi họ đã xuống tóc. Rồi đổi ý ra về. Vài người khác đã xuất gia sa di, nhưng quyết định hoàn tục. Có người chỉ xuất gia trong ba tháng Hạ, rồi trở về với cuộc sống tại gia cư sĩ. Chỉ giống như hoa và trái trước gió -- rất bấp bênh, không có gì chắc chắn.

Tâm của ta cũng dường thế ấy. Một thọ cảm phát sanh, kéo tới đẩy lui cái tâm, rồi tâm rơi rụng -- giống như hoa và trái.

Ðức Phật thấu hiểu đặc tính bấp bênh của vạn hữu. Ngài quan sát hiện tượng hoa quả trước gió và suy gẫm về các vị tỳ khưu và sa di, đệ tử Ngài, và nhận thức rằng các vị nầy cốt yếu cũng cùng một bản chất bấp bênh, không chắc chắn. Làm thế nào khác hơn được? Ðó chỉ là con đường của tất cả mọi sự vật.

Như vậy, đối với vị hành giả luôn luôn cảnh giác, không cần phải có người khuyên nhủ và dạy dỗ dài dòng để có thể nhìn thấy và lãnh hội. Trường hợp Vua Chanokomun, tiền thân của Ðức Phật trong một kiếp sống quá khứ xa xưa, là một thí dụ. Ngài không cần học hỏi nhiều. Chỉ quan sát một cây xoài là tất cả những gì Ngài đã làm để có thể thấu hiểu sự vật.

Ngày kia, trong khi ngồi trên thớt tượng để cùng với một nhóm quần thần dạo chơi trong công viên, Vua thoáng nhìn thấy vài cây xoài có trái chín nặng trĩu trên cành.

Vào lúc ấy Vua không thể dừng lại kịp thời nên nghĩ thầm, để chuyến đi trở về sẽ dừng lại hái vài trái thưởng thức. Tuy nhiên, Vua không ngờ rằng các vị đại thần từ phía sau đi đến, nhìn thấy xoài ngon, xúm lại dùng cây, vừa thọc vừa quơ đập lung tung cho trái rụng. Ðập tới đập lui, không mấy lúc cây xoài gãy nhánh và rụng lá tơi bời, trở nên xơ xác, cằn cỗi trơ trọi.

Vào buổi chiều đi trở lại ngang qua vườn xoài, Vua còn đang tưởng tượng mùi vị ngon ngọt của những trái xoài chín cây thì hết sức ngạc nhiên chỉ còn thấy những cây xoài cành lá xơ rơ xác rác, không còn trái đâu nữa.

Vua lấy làm thất vọng và bất mãn. Rồi Vua nhìn sang phía bên kia thấy một cây khác bên cạnh, cành lá vẫn còn nguyên vẹn. Vua tìm hiểu tại sao, và sớm nhận thức rằng vì cây nầy không có trái. Nếu cây không có trái thì không ai khuấy nhiễu và do đó, không ai làm gãy cành rơi lá. Bài học nầy thấm sâu vào tâm tư của nhà vua trên đường ngự giá hồi cung: "Kiếp sống làm vua thật là khó khăn, phiền muộn và đầy bực dọc. Luôn luôn cần phải lo lắng cho tất cả thần dân. Lại còn biết bao phiền lụy hơn nữa nếu có mưu toan tấn công, cướp giựt, hay xâm chiếm phần nào của vương quốc?" Mãi suy tư Vua không thể an giấc. Dầu có ngủ đi nữa cũng chiêm bao mộng mị.

Hình ảnh cây xoài không trái với cành lá sum sê tươi tốt nguyên vẹn luôn luôn lảng vảng trong tâm. Rồi Vua suy tư: "Nếu chúng ta trở thành giống như cây xoài không trái nầy, cành và lá của chúng ta ắt cũng sẽ như vậy, không bị tổn hại".

Vua ngồi trong cung thất, trầm tư mặc tưởng. Cuối cùng lãnh hội và thấm nhuần bài học của cây xoài, Vua quyết định xuất gia, sống đời tu sĩ. Vua tự ví mình như cây xoài và nghĩ rằng nếu không dấn thân vương víu trong đường lối của thế gian ắt ta sẽ trở nên độc lập, tự do, không còn phải bận bịu lo âu, không còn phải đương đầu với những khó khăn phiền phức, và tâm trí sẽ không bị khuấy động. Suy tư như thế rồi Vua ra đi.

Kể từ lúc ấy, bất luận đến đâu, khi có ai hỏi thầy của Ngài là ai thì Ngài liền đáp, "là cây xoài". Ngài không cần phải thọ nhận giáo huấn dông dài. Chỉ một cây xoài đủ làm bừng tỉnh và đưa Ngài thẳng vào Opanayiko Dhamma, Giáo Pháp hướng trở vào nội tâm. Nhờ sự giác tỉnh nầy Vua trở thành một nhà sư, người có ít bận bịu lo âu, người sống tri túc, biết đủ với chút ít gì mà mình có, người biết thỏa thích trong cuộc sống ẩn dật, an tĩnh, đơn độc một mình. Ngài từ bỏ cuộc sống trên nhung lụa của đời vương giả và cuối cùng được thanh bình an lạc.

Trong câu chuyện, lúc bấy giờ Ðức Phật là một vị Bồ Tát đang nỗ lực liên tục tiến bước trên con đường hướng về Ðạo Quả Phật. Cũng như Ðức Phật vào thời làm Vua Chanokomum, chúng ta phải nhìn quanh và quan sát, bởi vì tất cả mọi sự vật trên thế gian đều sẵn sàng giáo huấn, cung ứng cho ta bài học.

Dầu chỉ với chút ít trí tuệ trực giác chúng ta sẽ có thể lãnh hội rõ ràng, xuyên qua đường lối của thế gian. Chúng ta sẽ thấu hiểu rằng mọi sự vật trên thế gian là một vị thầy. Cây cối và dây leo chẳng hạn, có thể hé mở cho ta thấy bản chất của thực tại. Với trí tuệ, không cần phải hỏi ai cả, không cần phải học với ai. Ta có thể học nơi thiên nhiên, đủ để giác ngộ, như trường hợp Vua Chanokomum, bởi vì tất cả mọi sự vật đều theo con đường của Chân Lý, không tách rời ra khỏi Chân Lý.

Tác phong tự tại và tự chế kết hợp với trí tuệ, và hai đức tính nầy -- tự tại và tự chế -- có thể khai triển tuệ minh sát, đưa ta tiến sâu vào vị trí thông suốt đường lối của Thiên Nhiên. Bằng cách ấy chúng ta sẽ thấu triệt chân lý cùng tột của vạn pháp là Vô Thường, Khổ và Vô Ngã (Aniccà, Dukkha và Anattà). Thí dụ như cây. Tất cả những cây cối trên quả địa cầu đều như nhau, là "Một", khi ta nhìn xuyên qua thực tại "Vô Thường, Khổ, Vô Ngã". Trước tiên cây mọc lên, lớn, và già, trong lúc ấy không ngừng biến đổi, cho đến khi cằn cỗi và chết, như mỗi cây đều phải chết.

Cùng thế ấy, người và thú được sanh ra, trưởng thành và không ngừng biến chuyển trong suốt thời gian ấy cho đến khi qua đời. Những biến đổi khác nhau xảy diễn vô số lần trong khoảng thời gian chuyển tiếp từ sanh đến tử đã chỉ rõ Con Ðường của Giáo Pháp, tức nói lên đặc tính thiên nhiên của vạn pháp là vô thường, hư hoại và tan rã.

Nếu giác tỉnh và thông suốt, nếu nghiên cứu học hỏi với trí tuệ và chánh niệm, chúng ta sẽ thấy Giáo Pháp (Dhamma) là thực tại. Vậy chúng ta sẽ thấy con người luôn luôn được sanh ra, trưởng thành và cuối cùng chết. Mỗi người, và tất cả mọi người, đều phải trải qua vòng quanh sanh và tử. Vì lẽ ấy mỗi người trong vũ trụ là "Một" chúng sanh, tất cả đều in nhau. Như vậy, khi nhận thấy rõ ràng và tường tận một người thì cũng giống như ta thấy tất cả mọi người trên thế gian.

Cùng thế ấy, tất cả mọi sự vật là Giáo Pháp. Không phải chỉ những sự vật được thấy bằng mắt thịt mà chí đến những sự vật thấy trong tâm cũng vậy. Một ý nghĩ khởi sanh, rồi biến đổi và tan biến. Ðó là Danh Pháp (Nàma-Dhamma), chỉ giản dị là một cảm thọ tâm linh khởi phát và trôi qua. Ðó là bản chất thật sự của tâm. Chung hợp lại, đó là Diệu Ðế của Giáo Pháp, hay Chân Lý thâm diệu cao siêu của Giáo Pháp. Nếu không nhìn và không quan sát bằng đường lối nầy ắt ta sẽ không thật sự thấy! Nếu thấy, ắt ta sẽ có trí tuệ để lắng nghe Giáo Pháp mà Ðức Thế Tôn đã ban truyền.

--Ðức Phật ở đâu?
--Ðức Phật ở trong Giáo Pháp.
--Giáo Pháp ở đâu?
--Giáo Pháp ở trong Ðức Phật. Ngay tại đây, trong hiện tại.
--Tăng Già ở đâu?
--Tăng Già ở trong Giáo Pháp.

Phật, Pháp và Tăng hiện hữu trong tâm chúng ta, nhưng ta phải thấy rõ ràng. Vài người chỉ chụp lấy câu nói và mỗi khi có cơ hội, họ mạnh dạn lặp lại, "ồ, Phật, Pháp và Tăng hiện hữu trong tâm tôi." Nhưng pháp hành của họ không thích ứng, hoặc không thích nghi và do đó, không xứng đáng để có thể cung thỉnh Phật, Pháp, Tăng ngự vào trong tâm của họ. "Cái tâm" trước tiên phải là tâm thông hiểu Giáo Pháp.

Ðem mọi sự vật trở về điểm nầy của Giáo Pháp ta sẽ biết rằng Chân Lý thật sự có hiện hữu trên thế gian và như vậy, chúng ta có thể nương theo pháp hành để chứng ngộ.

Thí dụ "Danh Pháp" (Nàma-Dhamma) như những thọ cảm, những suy tư, tưởng tượng v.v... tất cả đều bất ổn định, không chắc chắn vững bền. Khi sân hận phát sanh, nó tăng trưởng và biến đổi, rồi cuối cùng tan biến. Hạnh phúc cũng vậy, phát khởi, tăng trưởng và biến chuyển, rồi cuối cùng tan biến. Tất cả đều trống rỗng. Nó không phải thật sự là "cái gì". Mãi mãi, đường lối của tất cả mọi sự vật -- cả tinh thần lẫn vật chất -- đều là như vậy. Bên trong chúng ta có thân và tâm. Bên ngoài có cây cối, các loại dây leo và các vật khác. Tất cả đều phơi bày rõ ràng định luật phổ thông về bản chất bấp bênh, không chắc chắn của toàn thể vạn pháp.

Dầu là một cội cây, một hòn núi hay một con vật, tất cả đều là Giáo Pháp, mọi sự vật là Giáo Pháp. Giáo Pháp ở đâu? Ở cùng khắp. Một cách giản dị, không có gì không phải là Giáo Pháp. Cái "không phải là Giáo Pháp" không hiện hữu. Giáo Pháp là Thiên Nhiên. Ðó là "Sacca Dhamma", Giáo Pháp của chân lý, Giáo Pháp đúng với chân lý. Nếu ta thấy Thiên Nhiên tức là ta thấy Giáo Pháp. Nếu thấy Giáo Pháp, tức thấy Thiên Nhiên. Khi thấy Thiên Nhiên ta thấu hiểu Giáo Pháp.

Và như vậy, học hỏi thật nhiều có lợi ích gì, khi mà chân lý cùng tột của đời sống, trong mỗi khoảnh khắc, trong mỗi hành động, chỉ là một vòng sanh và tử, lẩn quẩn loanh quanh vô cùng tận? Nếu ta giữ chánh niệm, ghi nhận và giác tỉnh trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, thì sự tự hay biết mình đã sẵn sàng để phát khởi. Ðó là thấu hiểu chân lý của Giáo Pháp, đã có hiện hữu nơi đây và trong hiện tại.

Trong hiện tại, Ðức Phật -- vị Phật thật sự -- vẫn còn sống, bởi vì Ngài chính là Giáo Pháp, "Sacca Dhamma". Và "Giáo Pháp của Chân Lý" mà giúp làm cho ta có thể thành Phật vẫn hiện hữu tồn tại. Giáo Pháp ấy không lẩn trốn nơi nào cả!

Giáo Pháp ấy làm khởi phát hai vị Phật: một trong thân, và vị Phật khác trong tâm.

"Giáo Pháp thật sự", Ðức Phật dạy Ngài Ànanda, "chỉ có thể chứng ngộ bằng pháp hành". Người thấy Giáo Pháp là thấy Phật. Người thấy Phật là thấy Giáo Pháp. Tại sao? -- Trước kia không có Phật. Chỉ sau khi Ðạo Sĩ Siddhattha Gotama chứng ngộ Giáo Pháp Ngài mới trở thành Phật. Nếu chúng ta giải thích như vậy thì Ngài cũng như ta. Nếu chứng ngộ Giáo Pháp ắt chúng ta cũng sẽ thành Phật, y như Ngài. Ðó là vị Phật trong tâm hay Danh Pháp (Nàma-Dhamma).

Phải giữ chánh niệm trong mỗi việc mà ta làm, bởi vì chính ta sẽ trở thành người thừa kế, lãnh trọn di sản của những nghiệp, thiện cũng như bất thiện, của mình. Hành thiện, gặt quả lành. Làm điều ác, gặt quả dữ. Không cần tìm ở đâu xa vời. Chỉ nhìn vào cuộc sống hằng ngày của ta cũng đủ thấu hiểu điều nầy. Ðạo Sĩ Siddartha Gotama đã giác tỉnh và chứng ngộ Chân Lý ấy. Và do nhờ vậy mà có một vị Phật xuất hiện trên thế gian. Cùng thế ấy, nếu mỗi người và tất cả mọi người thực hành và chứng đắc Chân Lý, chừng ấy họ cũng vậy, tất cả đều sẽ tự mình biến đổi và trở thành Phật.

Ðức Phật vẫn còn đây. Nghe vậy vài người sẽ lấy làm hoan hỷ nói rằng: "Nếu Ðức Phật vẫn hiện hữu thì tôi còn có thể thực hành Giáo Pháp!" Ðó là đường lối mà ta phải nhìn vào vấn đề.

Giáo Pháp mà Ðức Phật chứng ngộ là Giáo Pháp hiện hữu trên thế gian một cách thường xuyên, và ta có thể ví như nước mạch trong lòng đất, luôn luôn hiện hữu dưới đất. Người muốn đào giếng lấy nước phải đào sâu vào lòng đất, đủ sâu để gặp mạch nước. Nước mạch vẫn hiện hữu. Người kia không tạo nên, mà chỉ khám phá ra mạch. Cùng thế ấy, Ðức Phật không sáng tạo Giáo Pháp. Ngài cũng không đặt để hay ban hành Giáo Pháp. Ngài chỉ khám phá ra cái gì đã sẵn có. Do nhờ công phu quán niệm Ðức Phật đã thấy Giáo Pháp. Vì lẽ ấy ta nói rằng Ðức Phật giác ngộ, bởi vì giác ngộ là thông suốt, thấu triệt Giáo Pháp. Giáo Pháp là Chân Lý của thế gian. Vì Ngài thấy Giáo Pháp nên người ta tôn gọi Ngài là Phật. Và Giáo Pháp là cái gì làm cho những người khác cũng trở thành Phật, "Người Hiểu Biết", người thấu triệt Giáo Pháp.

Những ai có phẩm hạnh thanh cao và có niềm tin vững chắc nơi Phật-Pháp (Buddha-Dhamma) sẽ không bao giờ kém giới đức và từ bi. Với sự hiểu biết, ta sẽ thấy rằng thật sự ta không cách xa Ðức Phật. Chúng ta ngồi đây, trước mặt Ngài, đối diện với Ngài. Khi thấu triệt Giáo Pháp ta sẽ thấy Ðức Phật.

Nếu thực hành thật sự đầy đủ ta sẽ nghe được Phật- Pháp (Buddha-Dhamma), dầu ngồi dưới gốc cây, hoặc nằm, hay ở trong bất cứ oai nghi nào. Ðây không phải là điều gì mà ta chỉ nghĩ đến suông. Nó phát sanh trong một cái tâm trong sạch. Chỉ hồi nhớ suông những dòng chữ nầy ắt không đủ, bởi vì đây là vấn đề thấy Giáo Pháp, chỉ tùy thuộc nơi khả năng thấy Giáo Pháp chớ không phải bất luận gì khác. Vậy, ta phải quyết định gia công thực hành để có thể thấy, và đến chừng ấy pháp hành của ta mới viên mãn. Bất luận nơi nào mà ta ngồi, đứng, đi, hay nằm, chúng ta cũng sẽ nghe Giáo Pháp.

Ðể có thể thực hành những "Lời Dạy" của Ngài (Phật Pháp), Ðức Phật khuyên nên sống nơi thanh vắng và gia công luyện tập thu thúc lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý. Sáu căn là nền tảng của pháp hành, bởi vì đó là những nơi mà tất cả sự vật phát sanh, và sự vật chỉ khởi phát ở các nơi ấy. Ta thu thúc lục căn để có thể thấu rõ những nhân duyên phát sanh tại nơi nầy. Tất cả những gì thiện và bất thiện đều phát khởi xuyên qua sáu căn. Lục căn là những khả năng quan trọng nhất trong cơ thể. Mắt là yếu tố chánh trong sự thấy; tai là yếu tố chánh trong sự nghe; mũi, trong sự hửi; lưỡi, trong sự nếm; thân, trong sự xúc chạm, nóng, lạnh, cứng, mềm v.v.. , và ý là yếu tố chánh trong sự thọ cảm. Chúng ta phải củng cố xây dựng pháp hành của mình quanh quẩn sáu căn ấy.

Pháp hành nầy được dễ dàng vì Ðức Phật đã đặt để và ban truyền rành mạch tất cả những gì cần phải làm. Giống như Ðức Phật đã trồng cây xuống và mời chúng ta đến ăn trái. Phần chúng ta khỏi phải trồng cây. Dầu là những gì thuộc về Giới, Ðịnh hay Tuệ, không cần phải sáng tạo, đặt để, hay tranh luận dông dài. Tất cả những gì cần phải làm đều đã sẵn có trong Giáo Huấn của Ðức Bổn Sư.

Chúng ta vô cùng may mắn và có rất nhiều phước lành mới được nghe Lời Dạy của Ðức Phật. Cây ăn trái đã được trồng sẵn. Trái đã sẵn sàng chín mùi. Mọi sự vật đều được chuẩn bị, trọn vẹn và toàn hảo. Tất cả chỉ còn thiếu người đến hái trái và thưởng thức -- người có đủ niềm tin để thực hành! Ta phải nhận thức rằng phước báu và may mắn của ta quả thật là hy hữu và vô giá. Chỉ cần nhìn quanh để thấy bao nhiêu chúng sanh khác rất là bất hạnh; hãy nhìn xem những con chó, con heo, con rắn và những chúng sanh khác. Chúng quả thật bất hạnh, không được duyên lành để học hỏi Giáo Pháp, không được cơ may để thực hành Giáo Pháp. Ðó là những chúng sanh bất hạnh đang gặt hái sự báo ứng của nghiệp bất thiện mà chúng đã gieo trồng trong quá khứ. Khi không có được cơ hội may mắn để nghiên cứu học hỏi, để hiểu biết và để thực hành Giáo Pháp, ắt không có cơ may thoát ra khỏi đau khổ.

Ðã là người, là một chúng sanh trong cảnh người, ta không nên để mình trở thành nạn nhân của bất hạnh, thiếu kém phẩm hạnh thích nghi và nếp sống kỷ cương trong giới luật. Chớ nên để mình trở thành nạn nhân của số phần bất hạnh! Có nghĩa là người không hy vọng tiến đến Con Ðường Giải Thoát, Con Ðường đưa đến Niết Bàn, không hy vọng trau giồi giới đức. Không nên nghĩ rằng chúng ta đã tuyệt nhiên không còn hy vọng! Nghĩ như vậy chúng ta sẽ trở thành nạn nhân của hoàn cảnh bất hạnh, cũng như các sinh vật khác.

Chúng ta là những người đã nằm trong vùng ảnh hưởng của Ðức Phật. Như vậy, trong cảnh người chúng ta đã có đủ phước báu và cơ may, đủ phương tiện. Nếu ta tự sửa sai, phát huy đường hướng suy tư và sự hiểu biết của mình trong hiện tại thì việc làm nầy sẽ dẫn ta đến phẩm hạnh và pháp hành thích nghi để có thể thấy và thấu triệt Giáo Pháp, ngay trong kiếp sống làm người hiện tại.

Không giống như chúng sanh trong các cảnh giới khác, ta nên sớm thức tỉnh trong sự chứng ngộ Giáo Pháp. Ðức Phật dạy rằng trong khoảnh khắc hiện tại có Giáo Pháp hiển hiện nơi đây, ngay trước mắt ta. Ðức Phật ngồi hướng về phía chúng ta, ngay tại đây và trong hiện tại. Ta còn đợi chờ đến lúc nào hay nơi nào khác mới nhìn?

Nếu không suy tư chân chánh, nếu không thực hành thích nghi, ta sẽ té rơi, sa đọa vào những khổ cảnh: thú, địa ngục hay ngạ quỷ. Vậy thì sao? Hãy nhìn thẳng vào tâm của mình. Nếu sân hận phát sanh, cái gì đó? Nó đây rồi, chỉ nhìn! Khi si mê phát sanh, cái gì đây? Chính là nó, ngay tại đây! Khi tham ái phát sanh, cái gì đây? Hãy nhìn vào nó, ngay chính nơi nầy!

Vì không nhận ra và không thấu triệt tận tường những trạng thái tinh thần ấy nên tâm biến chuyển, không còn là loại tâm của loài người. Tất cả các pháp hữu vi đều ở trong trạng thái luôn luôn đang trở thành. Trạng thái trở thành đưa đến tái sanh, và tái sanh như thế nào tùy thuộc nhân duyên hiện tại. Như vậy chúng ta trở thành và sẽ có cuộc sống như thế nào do tâm tạo duyên.

-ooOoo-

Những Lời Dạy Của Ngài AJAHN CHAH

 


Giác Minh

Những Lời Dạy Của Ngài AJAHN CHAH

Vài Ðoạn Ngắn Của Giáo Pháp

Làm Thế Nào Thanh Lọc Giới Ðức?

Giới đức là thu thúc và kiểm soát thân, khẩu, khép hành động và lời nói của mình vào khuôn khổ kỷ cương. Về phương diện nghi thức, giới luật được phân làm hai hạng: giới cho người cư sĩ tại gia và giới của hàng xuất gia, tỳ khưu và tỳ khưu ni. Tuy nhiên, một cách tổng quát, đặc tính căn bản của giới luật là "tác ý", "ý muốn" nằm phía sau hành động và lời nói. Khi có chánh niệm, tự hay biết mình, ắt chúng ta suy tư chân chánh và có "ý muốn làm" chân chánh. Công trình tự hay biết mình và gom tâm chú niệm sẽ dẫn đến giới đức thanh cao trong sạch -- giới tịnh.

Ðó chỉ là lẽ dĩ nhiên, khi ta mặc áo quần dơ dáy và mình mẩy của ta cũng nhơ bẩn thì tâm sẽ cảm nghe kém thoải mái, bực bội, và khó chịu. Trái lại, nếu chúng ta giữ thân mình sạch sẽ và quần áo tươm tất gọn gàng thì tâm sẽ cảm nghe nhẹ nhàng khoan khoái và dễ chịu. Cùng thế ấy, khi giới đức không được thanh tịnh nghiêm trì, thân và khẩu ắt nhơ bẩn và đó là nguyên nhân làm cho tâm ưu phiền, sầu muộn và nặng nề. Chúng ta đã xa lìa pháp hành chân chánh, và điều nầy gây trở ngại, không để cho ta thấm nhuần, ăn sâu vào tinh chất nguyên thể của Giáo Pháp trong nội tâm. Trạng thái lành mạnh trong sạch của thân và khẩu tùy thuộc nơi mức độ mà tâm được chân chánh rèn luyện, vì tâm điều khiển hành động và lời nói. Vì lẽ ấy chúng ta phải gia công thực hành pháp luyện tâm.

Thực Hành Thiền Tập

Thực tập an trụ tâm là pháp hành làm cho tâm trở nên vững chắc, không chao động. Pháp hành nầy đưa tâm đến trạng thái an tĩnh, vắng lặng. Thông thường, cái tâm không được rèn luyện của chúng ta luôn luôn di động, khó kiểm soát, khó điều khiển. Tâm bay nhảy điên cuồng hoang dại theo những mê loạn của giác quan giống như nước chảy tán loạn đầu nầy đầu kia, tìm đến nơi thấp nhất. Mặc dầu vậy, các chuyên viên nông nghiệp và các kỹ sư hiểu biết phải làm thế nào để kiểm soát và dùng nước vào những việc có lợi ích nhất cho nhân loại. Con người thông minh, biết cách giữ chứa nước lại, biết xây đắp những hồ chứa thật rộng lớn, và đào kinh -- tất cả những công trình nầy chỉ nhắm vào mục đích duy nhất là dẫn nước và làm cho nước trở nên hữu dụng. Hơn nữa, nước được tích trữ trong hồ chứa lại được xử dụng để tạo điện lực, ánh sáng và các công dụng khác cũng do nhờ ta biết kiểm soát lưu lượng, không để nó tự nhiên trôi chảy một cách hoang phí và ứ đọng trong các vũng đầm nhỏ.

Tâm ta cũng vậy. Ðược chứa giữ và kiểm soát, được cần mẫn và kiên trì rèn luyện, tâm sẽ đem lại những lợi ích to tát không thể lường. Ðức Phật dạy, "Tâm được kiểm soát đem lại chân hạnh phúc. Vì lẽ ấy các con hãy gia công tu tập, rèn luyện tâm mình để thành đạt lợi ích cao thượng nhất". Các con thú mà ta thấy quanh đây cũng thế, như voi, ngựa, bò, trâu v.v.. đều phải được tập luyện mới có thể dùng được. Chỉ khi nào được rèn luyện đầy đủ, sức mạnh của con vật mới thật sự hữu dụng cho ta.

Một cái tâm được rèn luyện thuần thục sẽ đem lại phước lành không biết bao nhiêu lần nhiều hơn là tâm buông lung hoang dại. Ðức Phật và chư vị Thánh đệ tử của Ngài đều khởi đầu y như chúng ta -- với cái tâm không được rèn luyện. Vậy mà về sau, hãy xem các Ngài đã trở nên đối tượng kỉnh mộ tôn sùng của tất cả chúng ta như thế nào, và hãy nhìn xem bao nhiêu lợi ích mà chúng ta đã thọ nhận từ những lời dạy của các Ngài. Quả thật vậy, hãy nhìn xem những lợi ích mà toàn thể thế gian đang thọ hưởng do những vị đã trải qua suốt công trình luyện tâm và thành đạt tự do cùng tột. Một cái tâm được cẩn trọng kiểm soát và rèn luyện ắt cũng được trang bị hoàn hảo để hỗ trợ chúng ta trong mọi nghề nghiệp, ở mọi hoàn cảnh. Một cái tâm được uốn nắn và khép vào khuôn khổ kỷ cương sẽ giữ cho cuộc sống quân bình, công ăn việc làm dễ dàng hơn và phát triển dưỡng nuôi lý trí để điều hành các sinh hoạt của ta. Cuối cùng, hạnh phúc của chúng ta sẽ tăng trưởng cùng nhịp, tương xứng với pháp luyện tâm thích nghi.

Công trình luyện tâm có thể được thực hiện theo nhiều đường lối, với nhiều phương thức khác nhau. Phương pháp hữu ích nhất và có thể được tất cả mọi người -- với những tâm tánh khác nhau -- áp dụng thực hành là pháp "niệm hơi thở". Ðó là trau giồi và phát triển tâm, chú niệm hơi-thở-ra, thở-vào. ở tu viện nầy chúng tôi tập trung sự chú ý vào chót mũi và gom tâm hay biết nơi hơi-thở-vào và hơi-thở-ra bằng cách niệm thầm hai chữ "BUD-DHO" như câu chú. Nếu hành giả muốn dùng chữ nào khác để niệm, hoặc không niệm chữ nào mà chỉ chú tâm vào hơi gió di chuyển ra vào cũng được. Hành giả thay đổi, tự điều chỉnh, tìm lối thực hành nào thích hợp nhất với mình. Yếu tố chánh yếu trong pháp hành là luôn luôn giữ chánh niệm, luôn luôn ghi nhận, hay biết hơi thở trong khoảnh khắc hiện tại, để theo dõi gom tâm vào mỗi hơi-thở-vào và mỗi hơi-thở-ra, ngay lúc nó xảy diễn. Trong khi đi kinh hành, hãy cố gắng luôn luôn giữ tâm niệm ở cảm giác của bàn chân chạm xuống đất.

Pháp hành thiền nầy phải được kiên trì thực hành, càng liên tục càng tốt, để mang lại kết quả tốt đẹp. Không nên chỉ hành một thời gian ngắn trong ngày rồi ngưng luôn một hai tuần hay cả tháng mới hành trở lại. Hành gián đoạn như thế sẽ không gặt hái thành quả. Ðức Phật dạy nên siêng năng hành thiền, và chuyên cần hành thiền, có nghĩa là ta phải tận lực cố gắng, giữ cho pháp hành luôn luôn liên tục, không gián đoạn. Khi hành thiền chúng ta nên tìm một nơi yên tĩnh, thanh vắng, để có thể hành mà không bị ngoại cảnh làm xao lãng. Trong vườn hoặc dưới một cội cây có tàng bóng mát mẻ, kín đáo, phía sau nhà hoặc nơi nào khác mà ta có thể ở một mình không bị khuấy động, là những nơi thích hợp. Nếu là tỳ khưu hay nữ tu sĩ thì ta nên tìm một cái cốc (tịnh thất nhỏ) thích nghi, một khu rừng yên tĩnh hoặc một hang đá hoang vu vắng vẻ. Cảnh núi non có nhiều nơi đặc biệt thích nghi với pháp hành.

Trong bất luận trường hợp nào, dù ở đâu, chúng ta phải nỗ lực gia công chú tâm niệm hơi-thở-ra, thở-vào một cách liên tục. Nếu sự chú tâm xao lãng, hướng đến điều gì khác, hãy cố gắng kéo nó trở về đề mục. Cố gắng dẹp qua một bên tất cả những suy tư hay những lo âu khác. Không nghĩ đến bất cứ gì. Chỉ theo dõi bám sát vào hơi thở. Nếu ta giữ chánh niệm, ghi nhận và hay biết những ý nghĩ ngay lúc nó vừa khởi sanh và chuyên cần quay về đề mục hành thiền, tâm sẽ càng lúc càng trở nên vắng lặng.

Khi tâm thư thái tự tại và an trụ vững vàng, hãy buông rơi hơi thở, không dùng hơi thở làm đề mục hành thiền nữa. Bây giờ hãy quán chiếu thân và tâm (danh và sắc), vốn bao gồm năm uẩn; sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Hãy theo dõi và quán sát năm uẩn ấy ngay lúc nó đến rồi đi. Ta sẽ thấy rõ ràng rằng ngũ uẩn là vô thường, rằng trạng thái vô thường làm cho nó là bất toại nguyện và không đáng được ưa thích, rằng tự nó đến rồi đi -- không có một cái "ngã" điều khiển sự vật. Chỉ có thiên nhiên, di chuyển theo định luật nhân quả. Tất cả mọi sự vật trên thế gian đều nằm trong những đặc tính bất ổn định, bất toại nguyện, và không có một tự ngã thường còn, hay một linh hồn trường cửu.

Khi nhìn toàn thể kiếp sinh tồn dưới ánh sáng nầy mọi luyến ái và bám níu vào ngũ uẩn sẽ dần dần suy giảm. Ðó là do chúng ta thấy được những đặc tính thật sự của thế gian, bản chất thật sự của vạn hữu. Ta gọi đó là sự phát sanh trí tuệ.

Trí Tuệ Phát Sanh

Trí tuệ là nhìn thấy thực tướng những biểu hiện khác nhau của thân và tâm. Khi dùng cái tâm an trụ và được rèn luyện thuần thục của mình để quán chiếu năm uẩn ta sẽ thấy rõ ràng rằng cả hai, thân và tâm, là vô thường, bất toại nguyện, và vô ngã. Thấy tất cả các pháp hữu vi với trí tuệ như vậy ta không còn luyến ái hay bám níu vào nó nữa. Bất luận gì thọ nhận, ta thọ nhận với chánh niệm. Chúng ta không quá đổi vui mừng. Khi vật gì của ta tan vỡ, hư hoại hay biến tan, chúng ta không quá âu sầu phiền muộn, và khi bị đau đớn chúng ta không buồn khổ -- bởi vì ta thấy rõ bản chất vô thường của tất cả mọi sự vật. Khi lâm bệnh và phải chịu đau nhức như thế nào đi nữa ta vẫn bình thản, giữ tâm xả, bởi vì tâm của ta đã được rèn luyện đầy đủ. Tâm thuần thục là nơi nương tựa thật sự.

Tất cả những điều nầy được gọi là trí tuệ, cái trí tuệ thấu triệt chân tướng của sự vật ngay lúc nó vừa khởi sanh. Tuệ phát sanh do niệm và định. Ðịnh phát sanh từ nền tảng giới luật, hay đức hạnh. Tất cả những pháp nầy -- giới, định và tuệ -- tương quan với nhau rất mật thiết, đến độ không thể thật sự tách rời ra. Theo kinh nghiệm của pháp hành ta có thể nhìn ba pháp nầy như sau: Trước tiên, đặt tâm trong khuôn khổ kỷ luật để niệm hơi thở. Ðó là sự khởi sanh của Giới. Khi chánh niệm được kiên trì và liên tục an trụ vào hơi thở cho đến khi trở nên vắng lặng, đó là sự phát sanh của Ðịnh. Ðến lúc công trình quán chiếu cho thấy rằng hơi thở là vô thường, bất toại nguyện và vô ngã, và tiếp theo đó là tâm buông bỏ, không luyến ái, đến với hành giả. Ðó là sự phát sanh của Tuệ. Như vậy có thể nói rằng pháp niệm hơi thở là một pháp môn tu tập nhằm trau giồi và phát triển Giới, Ðịnh, Tuệ. Cả ba cùng đến chung với nhau.

Khi Giới, Ðịnh và Tuệ đều cùng được trau giồi và phát triển ta gọi là thực hành Bát Chánh Ðạo. Ðức Phật dạy rằng đó là con đường duy nhất dẫn thoát ra khỏi mọi khổ đau.

Bát Chánh Ðạo cao siêu hơn tất cả các pháp, vì nếu thực hành thích nghi, đó là con đường đưa thẳng đến Niết Bàn, đến thanh bình an lạc. Ta có thể nói rằng pháp hành nầy thật sự đưa đến tận Ðức Phật và Giáo Pháp một cách chính xác.

Những Lợi ích Của Pháp Hành

Khi ta hành thiền như đã được giải thích ở phần trên, những quả lành của pháp hành nầy sẽ trổ sanh theo ba giai đoạn như sau:

Trước tiên, đối với những vị hành giả ở mức độ "Phật tử có đức tin" thì niềm tin nơi Phật, Pháp, Tăng càng tăng trưởng mạnh mẽ hơn. Niềm tin nầy trở thành nguyên động lực thật sự dũng mãnh, hỗ trợ bên trong mỗi người. Các vị nầy cũng thấu hiểu tận tường hơn, bản chất "nhân sanh quả" của vạn pháp, rằng thiện nghiệp sẽ đưa đến quả lành và bất thiện nghiệp sẽ đưa đến quả dữ. Ðối với người như thế ấy hạnh phúc càng thêm dồi dào và nội tâm càng thêm thanh bình an lạc.

Thứ đến là những vị đã thành đạt các Thánh Quả Tu Ðà Huờn, Tư Ðà Hàm, hoặc A Na Hàm. Niềm tin nơi Phật, Pháp, Tăng, của những vị nầy không còn có thể lay chuyển. Các Ngài vô cùng an lạc và vững vàng tiến bước trên con đường dẫn đến Niết Bàn.

Thứ ba là chư vị A La Hán, bậc Toàn Thiện, những vị đang thọ hưởng loại hạnh phúc hoàn toàn vượt ra khỏi mọi hình thức đau khổ. Các Ngài đã là Phật, đã vượt ra khỏi thế gian và đã viên mãn hoàn tất cuộc hành trình trên Con Ðường của bậc Thánh Nhân.

* * *

Tất cả chúng ta đã có diễm phúc được sanh làm người và được nghe Giáo Huấn của Ðức Phật. Ðó là cơ hội ngàn vàng mà hàng triệu chúng sanh khác không được có. Như vậy, chớ nên hờ hững dể duôi hoặc buông lung không chuyên cần. Hãy nhanh chóng tạo phước, hành thiện, và noi theo con đường của pháp hành từ đoạn đầu, đoạn giữa, đến mức độ cao thượng nhất. Không nên để thời gian trôi qua một cách hoang phí mà không có mục tiêu. Hãy cố gắng vượt đến chân lý của những lời dạy mà Ðức Từ Phụ đã ban truyền, ngay trong ngày hôm nay.












Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

3. Kinh nghiệm Tuệ Quán (Phần: Kỹ thuật Vipassana)

 


Kinh nghiệm Tuệ Quán 

Phần: Kỹ thuật Vipassana

Như đã nói Vipassana là sự quan sát Danh Sắc, những hiện tượng tâm sinh lý đang diễn ra trong từng phút sanh diệt. Tâm thiện hay bất thiện điều là cảnh Danh Pháp để hành giả Vipassana quan sát. Với một người đã tu chứng Samatha thì tâm thiền của họ cũng có thể là cảnh Danh Pháp và các hình thức hơi thở đều là cảnh Sắc Pháp. Ở đây, tu Vipassana không phải là tập trung tư tưởng trong một đề mục mà là quan sát cái gì đang xảy ra: Thân ta đang hoạt động thế nào, tâm ta đang ra sao, thân tâm ta đang có cảm giác gì?.

Nói gọn lại thì công phu Vipassana gồm hai bước. Bước một là quan sát rõ thân tâm mình cái gì là Danh cái gì là Sắc, danh gồm những gì, sắc gồm những gì. Đây chính là giai đoạn phân biệt danh sắc, lúc đầu chỉ qua khía cạnh tục đế mà ta học được qua kinh điển hay lời người khác hướng dẫn. Sau đó là sự nhận biết trực tiếp vào bản chất thật sự của Danh Sắc trên khía cạnh Chân Đế: Đây là tham, sân ... Đây là đất, nước, lửa, gió ... Cái biết như vậy về Danh Sắc được gọi là biết qua khía cạnh bản tướng thực tính.

Bước thứ hai trong công phu Vipassana là nhìn thấy Tam Tướng hay Tam pháp ấn trong Danh Sắc là Vô Thường, Khổ và Vô Ngã. Người từng tu tập Samatha trước khi tu Vipassana thì nên bắt đầu với Danh pháp hơn là Sắc pháp, vì họ đã quen làm việc với cái tâm của mình. Mỗi lẫn bắt đâu với Vipassana, họ chỉ việc bỏ ra ít thời gian với Samatha rồi nhìn vào tâm thiền của mình để quan sát. Khi đã quen thuộc với cảnh Danh pháp thì cảnh Sắc pháp đối với hành giả sẽ trở nên rõ ràng hơn rất nhiều. Đây chính là một lý do quan trọng để một hành giả Vipassana nên dành thì giờ để tu tập Samatha trước. Có thấy rõ Danh Sắc là gì và ra sao thì hành giả mới có cơ hội thấy được tánh sanh diệt thường trực của chúng. Thấy được tánh sanh diệt ở đây không chỉ đơn giản là thấy chúng xuất hiện rồi biến mất, mà còn thấy ra một nguyên lý quan trọng khác là Danh Sắc do duyên nào đó mà có rồi cũng do duyên mà mất đi. Nói gọn lại mọi thứ ở đời do duyên mà có và có rồi chắc chắn phải mất đi. Chính tính chất này của Danh Sắc đã được Đức Phật gọi là khía cạnh bất toàn bất trắc (dukkha - khó mà trụ lâu). Không ai có thể thay đổi được những khía cạnh vừa nói ở Danh Sắc, chúng cứ theo duyên mà diễn ra, nên Danh Sắc có thêm khía cạnh thứ ba để hành giả Vipassana quán chiếu, đó là Vô Ngã. Quan sát Danh Sắc theo cách vừa nói nãy giờ được gọi là Vipassana.



Các bước công phu Vipassana

Để minh họa cho hành trình tu tập mà cũng là hành trình nhận thức của hành giả Vipassana, trong kinh đã phân tích các bước công phu ra thành 11 giai đoạn:

1. Phân biệt Danh Sắc Tuệ: giai đoạn phân tích và nhận biết Danh Sắc là gì, gồm những chi.

2. Liễu Duyên Tuệ: Tiếp theo thấy được tính nhân quả của Danh Sắc rằng sự có mặt của chúng hoàn toàn do các nhân duyên tức những điều kiện trợ sinh hay trợ lực.

3. Quán Sát Tuệ: Bước thứ ba là hành giả thấy rõ Danh Sắc luôn vô thường, bất toàn và vô ngã.

4. Sanh Diệt Tuệ: Bước thứ tư, hành giả đặc biệt thấy rõ sự sanh diệt liên tục của Danh Sắc.

5. Hoại Diệt Tuệ: Đây là giai đoạn hành giả hầu như chỉ thấy mọi thứ ở đời đang chờ mất đi.

6. Kinh Úy Tuệ: Thấy Danh Sắc như vậy nên cái thấy lúc này luôn gắn liền với cảm giác kinh cảm như người thấy cái chết của mình đang diễn ra trước mắt.

7. Nguy Hại Tuệ: Sự kinh cảm kéo dài đến lúc nào đó sẽ trở nên chín mùi khiến hành giả thấy Danh Sắc chỉ còn là những thứ hiểm họa, không có gì là đẹp hay vui nữa.

8. Yếm Ố Tuệ: Nếu không bỏ cuộc thì nỗi sợ hãi lúc này sẽ thành ra sự chán chường.

9. Dục Thoát Tuệ: Chán rồi thì gì cũng muốn buôn bỏ.

10. Quyết Trạch Tuệ: Muốn buôn bỏ nên chỉ thấy trong Danh Sắc con đường để lìa bỏ chúng.

11. Hành Xả Tuệ: Cảm giác của hành giả đối với Danh Sắc lúc này không còn là chán hay sợ mà là sự hững hờ, lãnh đạm.

Giai đoạn số 11 này được gọi là ranh giới sau cùng giữa phàm phu và thánh nhân. Người đủ duyên lành sẽ từ đây mà thành tựu thánh trí, nếu thiếu duyên mà vẫn duy trì được nhận thức này thì cũng được an lạc một đời và dĩ nhiên là gieo được giống lành cho việc giải thoát ngày sau.

Chỉ có pháp môn Vipassana (với sự hỗ trợ ít nhiều của Samatha) mới có thể dẫn đến cứu cánh giải thoát. Nếu chỉ tu tập Samatha mà không có Vipassana thì cái đạt được nhiều lắm chỉ là thiền định, thần thông và sự tái sinh về các cõi Phạm Thiên.

Nói đơn giản thì Samatha là sự tập trung tư tưởng vào một đề mục nào đó nhằm đạt được một khả năng định tâm đủ để làm lắng yên các phiền não thuộc Dục Giới. Đây là đường đi của những ai chán sợ và muốn lìa bỏ đời sống Dục Giới. Với người không cầu giải thoát tuyệt đối tức sự chứng ngộ Níp Bàn bằng thánh trí, nhổ bỏ tận gốc tất cả phiền não tiềm tàng, thì họ xem Samatha là con đường dẫn đến thần thông và các cõi Phạm Thiên. Người cầu đạo giải thoát thì tu tập Samatha nhằm có được khả năng định tâm để lấy đó làm nền tảng cho trí tuệ Vipassana để nhổ bỏ tận gốc tất cả mầm mống sanh tử.

Như vậy khi Samatha được xem là Định học trong Tam học thì Samatha và Vipassana lúc này phải được xem là tinh hoa của Phật Pháp. Cả hai pháp môn cần phải được hành trì đúng cách và đúng mức. Người xuất gia hay tại gia ở bất cứ nơi đâu và lúc nào với bất cứ điều kiện sống như thế nào cũng có thể hành trì hai pháp môn này. Phải có niềm tin rằng có hành trì thì chắc chắn có kết quả. Đừng bao giờ tu tập với sự trông đợi ở đời sau kiếp khác. Sao ta lại có thể thiếu niềm tin khi cho rằng ngay đời này mình không thể đắc thiền chứng đạo. Những thành tựu đó phải do chính mình tìm thấy, không thể trông đợi ở ai khác. Duyên lành chưa họi đủ thì ta có thể phải mất cả đời, nhưng khi duyên chín mùi thì chỉ trong một nháy mắt. Duyên ở đây chính là sự nổ lực của chúng ta, những điều kiện tâm lý, bối cảnh vật chất, và dĩ nhiên là phước lành Ba La Mật.

Đúc kết lại, Samatha giúp tâm an định khỏi sự xao động của phiền não để làm nền tảng cho chi tuệ Vipassana soi thấu các pháp. Tất cả lời dạy của Đức Phật chỉ nhằm vào một ý nghĩa là giúp ta tu tập hai pháp môn này mà thôi.

Xin chúc quý vị thành công.

Trích: Kinh nghiệm tuệ quán


















Thứ Ba, 15 tháng 2, 2022

2. Kinh nghiệm Tuệ Quán (Phần: Kỹ thuật tu tập Samatha)

 


Kinh nghiệm Tuệ Quán 

Phần: Kỹ thuật tu tập Samatha

Ở đây tôi chỉ đặc biệt nói đến 11 đề mục phổ biến nhất của Samatha là 10 Kasina và hơi thở.

Người muốn tu tập Samatha hay Vipassana trước hết phải có giới hạnh thanh tịnh, nếu không thì Niệm hay Định không thể có được. Đó là lý do trong kinh mới dạy rằng: Giới hạnh là giải pháp cho trạo hối. Giới thanh tịnh giúp hành giả được bình tâm, dễ có khinh an, phỉ lạc. Dầu là tăng hay tục, khi nhìn lại giới hạnh thanh tịnh của mình cũng điều có được sự an lòng như một người sống giữa một bức tường bảo vệ. Có an lạc với chính mình thì ta mới có thể dễ dàng tập trung tư tưởng. Rất nhiều người có ý xem thường tác dụng của giới hạnh, vì tự nghĩ mình không làm điều ác gì to tát, vài ba vụ vi phạm giới hạnh thì có gì đáng kể đâu. Nhưng thật ra đối với một người sống tĩnh tâm thì một chút lấm nhơ trong giới hạnh cũng đủ khiến ta trở nên bồn chồn, áy náy, bức rứt mà nhiều khi chính mình không tìm ra lý do. Chính giới hạnh thanh tịnh giúp hành giả tránh được những sợ hãi vô cớ khi đối diện với tâm mình, hay khi sống cô độc ở nơi thanh vắng. Muốn nấu cho xong một nồi cơm thì người ta phải cần đến những chuẩn bị tối thiểu như gạo, nước, củi, lò thì nói gì là công phu tu tập thiền định, những chuẩn bị tâm lý còn nhiều hơn thế nữa.

Theo sớ giải, chỉ trừ trường hợp hết sức đặc biệt, hầu hết chúng ta muốn có được tình trạng tâm lý ổn định và minh mẫn thì cả thân và tâm đều phải được giữ vệ sinh đúng mức, hành giả phải quan tâm việc tắm rửa và y phục sạch sẽ, bên cạnh một nếp sống giới hạnh không có gì để mình phải tự trách. Điều thứ hai, theo kinh nghiệm của các thiền sư, cứ mỗi lần bắt đầu thiền hành hay tọa thiền, hành giả nên phát nguyện cúng dường thân mạng cho Đức Phật. Việc đó có ý nghĩa rất lớn. Hành giả sau đó như được sống trong sự hộ trì của Đức Phật và không còn phải nghĩ về tấm thân mình như là một vật sở hữu, bởi lúc này nó đã là một món lễ vật đã được hiến cúng cho Thế Tôn.

Trước khi bắt đầu với công phu tu tập thiền định, hành giả nên tự xét mình có làm gì lầm lỗi hay mạo phạm, dầu vô tình hay hữu ý, đối với một người khả kính nào đó quanh mình hay không. Đó là cha mẹ, thầy tổ hay một cao nhân sống cạnh mình. Ngay khi nhận ra một lỗi nhỏ cần sám hối thì hành giả nên lập tức giải quyết cho xong.



Đề mục hơi thở

Hơi thở ra vào thì có cả ngày, trong từng giây và ở bất cứ nơi đâu. Đây là một đề mục tế nhất trong các đề mục thô nhưng là thô nhất trong các đề mục tế. Hơi thở là vô hình, vô tướng nên được gọi là tế, nhưng ta có thể biết nó qua sự tiếp xúc với làn da và có thể phát hiện nó ở mũi hoặc môi. Hơi thở là sắc pháp, nhưng khi tu tập đến nó ta cũng cần đến sự tinh tế, bén nhạy gần giống như đối với đề mục Danh Pháp. Đề mục hơi thở có thể dẫn đến bốn tầng thiền sắc giới, có nghĩa là ta chỉ cần tu tập đề mục này có thể chứng đắc tòan bộ các tầng thiền Đáo Đại, gồm cả sắc giới và vô sắc giới.

Bồ tát Tất Đạt đã nhờ vào đề mục hơi thở mà chứng đắc cả thiền định và đạo quả, như đã nói, cả ngày và đêm ta không thể nào sống thiếu hơi thở, chính hơi thở làm nên đời sống của ta, Tỉnh thức trong từng hơi thở có nghĩa là ta đã sống một cách rốt ráo nhất. Điểm khác biệt giữa thánh và phàm có nhiều cách nói, nhưng cách nói đơn giản nhất chính là thánh nhân cỏ thể tỉnh thức trong từng hơi thở, còn phàm phu thì không. Dĩ nhiên, dầu ta có nỗ lực đến mấy mà thiếu duyên lành Ba La Mật thì công phu tu tập cũng không thể dẫn đến cứu cánh cao nhất. Nhưng dựa vào đâu để ta biết mình không đủ Ba La Mật, nên cách tốt nhất là nỗ lực hết mình.

Hành trình tu tập của bồ tát Tất Đạt là một kinh nghiệm rõ ràng nhất về trường hợp chỉ dùng đề mục hơi thở để tu tập cả Samatha và Vipassana. Từ đề mục hơi thở, ngài chứng đắc các tầng thiền, và từ đây ngài chứng đắc Phật quả.

Tư thế tu tập Samatha rất quan trọng. Có những đề mục, như hơi thở chẳng hạn thì ta bắt buộc phải chọn lấy tư thế nằm hoặc ngồi, vì trong điều kiện cơ thể đó ta mới có thể toàn tâm, toàn ý tập chú vào hơi thở mà không phải bận tậm trong việc điều động cơ bắp để giữ thăng bằng hay phải ngó trước trông sau. Đây chính là lý do tại sao Đức Phật đã dạy rất rõ tư thế toại thiền trong lúc tu tập đề mục hơi thở. Đó là hành giả phải ngồi xếp bằng, giữ lưng thật thẳng, tư thế ngồi giúp thân ta được ổn định, không chao lắc và không tốn sức kiềm giữ oai nghi. Với người dễ buồn ngủ thì tư thế ngồi tốt hơn nằm và nam hành giả nên ngồi kiết già xếp hai chân, còn nữ hành giả nên ngồi bán già xếp một chân. Nhưng nam nữ gì cũng phải luôn ngồi thẳng lưng, lưng thẳng giúp chúng ta ngồi lâu hơn và tránh được những tổn thương cột sống, tình trạng thường thấy ở những người ngồi khom lưng. Lưng thẳng chưa đủ, cổ phải kiên định, mặt hướng thẳng về phía trước, không để đầu nghiên hay cuối gục.

Để theo dõi hơi thở, hành giả phải chú ý đến lỗ mũi hay môi trên, chổ hơi thở tiếp xúc với da. Nên nhớ ta phải để hơi thở ra vào tự nhiên, không cố gắng điều khiển nó. Ta chỉ chú ý vào nó mà thôi. Có một số thiền sư đề nghị hành giả buổi đầu nên thở mạnh và nhanh. Đây chỉ là kinh nghiệm cá nhân không được nhắc đến trong kinh điển. Vì cách thở đó rất dễ khiến ta trở nên mõi mệt. Nhớ giữ chánh niệm nhưng chỉ để duy trì định tâm (nếu chỉ Niệm thuần túy thì sẽ thành Vipassana, không còn Samatha nửa) và phải thở thật nhẹ nhàng, với tâm thanh thản, không để mình phải tu thiền dưới bất cứ một áp lực nào của thân hay tâm.

Hơi thở trong buổi đầu sơ cơ mới tu tập thì gọi là hơi thở trong dạng Sơ Tướng. Hơi thở lúc này vẫn còn là cảnh xúc tức đối tượng vật chất hay cảnh Sắc Pháp. Khi khả năng định tâm của hành giả vũng mạnh và tinh tế hơn nữa thì cảnh hơi thở sẽ trở thành một ấn tượng trong tâm thức, thuật ngữ gọi là Nhiếp Tướng, nó đã thành ra cảnh Danh Pháp. Tiếp theo, cảnh nhiếp tướng sẽ dần dần không còn là luồn hơi nửa mà trong nhận thức của hành giả, nó giống như một làn khói, hoặc một chuổi ngọc trai, một tia ánh sáng, hoặc một trái cầu nhỏ trên chóp mũi ..., những hình ảnh này ở mỗi người mỗi khác, chúng là biến tướng của hơi thở lúc đầu và bây giờ được gọi tên bằng thuật ngữ Tự Tướng, mà chữ dịch xưa giờ là Quang Tướng, mà thật ra chữ Patibhaga ở đây có nghĩa là cái thay thế, cái tương đương, cái gì đó giống nhưng khác và ngó khác nhưng cũng là cái cũ.

Khi tâm tập trung hơi thở qua từng giai đoạn như vừa nói thì những trở ngại tinh thần như tham dục, bất mãn, lười biếng, bồn chồn, hoang mang cũng sẽ được kiềm chế không có mặt. Trong tình trạng tâm lý như vậy, 5 yếu tố tâm lý cần thiết cho thiền định buổi đầu sẽ lộ diện rõ ràng hơn. Đó là khả năng hướng tâm vào đối tượng, gọi là Tầm (Vitakka). Thứ hai là khả năng dán tâm vào cảnh, gọi là Tứ (Vicara). Từ hai khả năng này, tâm hành giả không còn bị trôi nổi mà chỉ còn có một đối tượng duy nhất để nhận biết nên đều tự nhiên là tâm sẽ được thoải mái, thanh thản hơn, thuật ngữ gọi tình trạng này là Hủy Lạc. Với sự hỗ trợ của Hỹ Lạc, khả năng tập trung tư tưởng của hành giả sẽ hơn hẳn trước kia, đủ sức trấn áp 5 triền cái không cho chúng xuất hiện. Khả năng này gọi là Định. Định này chính là Sơ Thiền. Người đắc sơ thiền không còn sự thích thú hay bất mãn trong 5 trần cảnh vật chất. Ở trình độ sơ thiền, hành giả không còn cảm giác buồn ngủ hay lười biếng, cũng không còn cảm giác bồn chồn (Trạo Hối) và không còn thắc mắt gì về pháp môn mình đang tu tập (Nghi Hoặc). Vị ấy biết rõ chính đề mục hơi thở đã đưa mình đến trạng thái này, biết rõ trạng thái vắng mặt của 5 triền cái, biết rõ sự có mặt của 5 chi thiền và tin chắc rằng mình hiện đã lìa bỏ sự ám ảnh của 5 dục.

Không có chuyện ai đó đắc thiền mà còn đam mê thích thú trong 5 dục. Cảnh giới của các dục và Sơ Thiền được ngăn đôi bởi dòng sông chi thiền. Muốn qua được bờ bên kia thì ta phải lìa bỏ được bờ này. Không lìa bỏ được tham dục thì không thể nào đắc thiền được. Nên chính Đức Phật cũng đã xác định rằng Sơ Thiền trước tiên phải là sự lìa bỏ 5 dục và lìa bỏ các pháp bất thiện mà ở đây là các triền cái còn lại. Nên nhớ Sân Tâm (dosa) trong 5 triền cái còn bao gồm cả Tật đố (issa) và Bỏn xẻn (macchariya) vốn thuộc nhóm Sân phần. Và tạm thời hành giả cũng phải lìa bỏ cả sự Kiêu mạn (mãna) thuộc nhóm tham phần. Điều tất nhiên sẽ xảy ra là khi tâm vắng mặt phiền não thì tự nhiên hành giả sẽ được hỷ lạc. Chính hỷ lạc là nền tảng cho định tâm tốt hơn. Chỉ có hành giả tu chứng đến chổ này mới hiểu được rằng trên đời này còn có một thứ hạnh phúc không đến từ sự hưởng thụ 5 dục, mà chỉ có được từ việc lìa bỏ thứ hạnh phúc thấp kém kia.

Nhiều người cứ nghe nói đến Jhana là cứ liên tưởng đến việc phi hành (bay) hay hóa hiện này nọ. Thật ra, nói trên chữ nghĩa hay tác dụng của thiền định thì không có cái gì liên hệ đến những khả năng đó. Chữ Jhana có hai nghĩa là sự thiêu đốt hoặc sự tập trung tư tưởng. Người đắc thiền trước hết phải thiêu cháy 5 triền cái và nhờ vậy khả năng tập trung tư tưởng vào đề mục sẽ được triệt để hơn.

Khi đắc lên tầng nhị thiền, hai tâm sở Tâm và Tứ sẽ không còn nữa. Bởi với trình độ này, hành giả chỉ cần Hỷ, Lạc, Định, không cần đến sự hỗ trợ của hai tâm sở Tầm và Tứ. Tầng tam thiền chỉ còn Lạc và Định. Ở tầng tứ thiền thì Lạc sẽ được thế chổ bằng Xả. Nghĩa là càng lên cao thì cảnh càng vi tế dần nên tâm cũng vi tế theo, không còn cần đến những công cụ hỗ trợ phức tạp như trước đây nửa.

Samatha ở người cầu đạo giải thoát chính là Định Học trong Tam học. Có Địn mới có Tuệ, có Tuệ mới có giải thoát. Nhưng với năng lực của samatha, từ sơ thiền trở lên, hành giả có thể sống an lạc trong cả thân lẫn tâm. Đó là lý do vì sao trong kinh đã mô tả đời sống của Đức Phật hầu như an lạc toàn phần. Người tu phật phải luôn nhớ rằng samatha chỉ thật sự có  ý nghĩa khi làm nền tảng cho Vipassana. Những gì ngoài ra chỉ là thứ phụ.

Ngoài tác dụng hiện tại lạc trú và làm nền tảng cho Tuệ Quán, một hành giả Samatha đã chứng tối thiểu sơ thiền nếu vẫn giữ được cho đến lúc tắt thở, không làm mất tầng thiền đã chứng thì sẽ sanh về một cõi Phạm Thiên nào đó tương ứng với tầng thiền cao nhất mà mình đã chứng.

Trích: Kinh nghiệm Tuệ Quán






















Thứ Ba, 8 tháng 2, 2022

Tu tập Từ Tâm *****

 


Tu tập Từ Tâm

Trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật dạy rằng việc tu tập Từ Tâm có thể giúp hành giả định tâm tốt hơn, và bản thân đề mục Từ Tâm cũng có thể giúp hành giả chứng thiền với kỹ thuật đã được nói rõ trong bộ Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhidamagga) qua 528 câu rãi Từ Tâm.

Pháp môn này vô cùng đặc biệt, nếu không chứng thiền được thì cũng được vô lượng công đức. Người dù có từng chứng thiền hay không khi muốn tu tập đề mục Từ Tâm cũng phải áp dụng một kỹ thuật giống nhau, dĩ nhiên nhanh chậm có khác.

Pháp tu Từ Tâm chỉ được gọi là Vô Lượng Tâm khi đối tượng của nó là tất cả chúng sanh ở vô lượng thế giới không có một phân biệt nào. Lòng hành giả muốn đắc thiền bằng đề mục này phải đạt được mức độ không giới tuyến, dù nhiều khi chỉ mới nhắm vào một đối tượng thì đã đắc thiền. Khả năng cao nhất của đề mục Từ Tâm là tam thiền.

Người có thiền thì tình thương đối với chúng sanh mạnh mẽ và rõ ràng hơn người không có thiền. Từ Tâm ở hành giả chưa từng chứng thiền thường chỉ ở mức tưởng tượng bằng thiện chí chứ không được thứ tình thương cụ thể như một người chứng thiền.

Trong 11 quả báo của pháp môn Từ Tâm có nói đến những điều mà hành giả nào cũng cần là ngủ ngon, dậy khỏe, không ác mộng, được chư thiên hộ trì, định tâm dễ dàng, lúc chết không mê loạn và khả năng sanh thiên rất cao.

Phương pháp niệm rải tâm từ:

- Niệm rải tâm từ cho chính mình:

(Tôi nguyện không oan trái với mọi chúng sinh, được sự an lạc, không có khổ thân, khổ tâm)

- Niệm rải tâm từ đến thân mẫu của mình còn sống như sau:

(Cầu mong thân mẫu của con không oan trái với tất cả chúng sinh, được sự an lạc, không có khổ thân, khổ tâm)

- Niệm rải tâm từ đến thân phụ của mình còn sống như sau:

(Cầu mong thân phụ của con không oan trái với tất cả chúng sinh, được sự an lạc, không có khổ thân, khổ tâm)

- Niệm rải tâm từ đến thầy tổ của mình còn sống như sau:

(Cầu mong bậc thầy tổ của con không oan trái với tất cả chúng sinh, được sự an lạc, không có khổ thân, khổ tâm).

- Niệm rải tâm từ đến những bạn bè của mình còn sống như sau:

(Cầu mong những bạn bè của chúng tôi không oan trái với tất cả chúng sinh, được sự an lạc, không có khổ thân, khổ tâm).

- Niệm rải tâm từ đến những bà con thân quyến của mình còn sống như sau:

(Cầu mong những bà con thân quyến của chúng tôi không oan trái với tất cả chúng sinh, được sự an lạc, không có khổ thân, khổ tâm). 

- Niệm rải tâm từ đến dân tộc Việt Nam như sau:

(Cầu mong dân tộc Việt Nam thân yêu của chúng tôi không oan trái với tất cả chúng sinh, được sự an lạc, không có khổ thân, khổ tâm).

- Niệm rải tâm từ đến tất cả chúng sinh như sau:

(Cầu mong tất cả chúng sinh không oan trái lẫn nhau, được sự an lạc, không có khổ thân, khổ tâm).

Những phương pháp tiến hành niệm rải tâm từ đến từng hạng người theo tuần tự trước sau này làm cho hành giả phát sanh tâm từ khiến thân và tâm được an lạc; và mỗi hạng người làm đối tượng của tâm từ cũng cảm thấy thân và tâm mát mẻ dễ chịu, thương yêu, quý mến đến hành giả một cách đặc biệt và tự nhiên, bởi do năng lực tâm từ của hành giả.

Hành giả tiến hành niệm rải tâm từ đến từng hạng người với thiện tâm hợp tâm từ, cầu mong mỗi hạng người đều được an lạc, không oan trái lẫn nhau, không khổ thân, khổ tâm, cầu mong họ giữ gìn thân tâm thường được an lạc.

Pháp hạnh tâm từ ba la mật là một trong 10 pháp hạnh ba la mật:

1- Bố thí ba la mật.

Trích: Thanh Tịnh Đạo











Thứ Hai, 17 tháng 1, 2022

1. Kinh nghiệm Tuệ Quán (Phần: Chỉ Quán song tu)


I. CHỈ QUÁN SONG TU

Tổng lược:

Mục đích của Định Học là thanh lọc nội tâm nhằm lìa bỏ 5 Triền Cái để chứng thiền và lìa bỏ các phiền não còn lại để chứng đạo.

Dĩ nhiên Định Học chỉ là nền tảng quan trọng cho Tuệ Học, tức chỉ là giai đoạn Tâm Tịnh trong Thất Tịnh.

Theo Tăng Chi Bộ, 2 bài Alokasutta Pacalayamanasutta thì trí tuệ kết hợp với sơ định mới có thể làm tốt việc quán chiếu Danh Sắc. Sự kết hợp này cho tâm ta một tia sáng để soi rọi các pháp được tốt hơn.

Và cứ vậy từ Sơ định, tức khả năng định tâm của hành giả buổi đầu, trí tuệ của hành giả sau đó sẽ ngày một tinh tường hơn khi khả năng định tâm đã tới mức Cận định và cuối cùng khi chứng đạo (dù tầng thánh nào bất luận) thì một hành giả chưa từng đắc thiền đi nửa cũng phải có được trình độ Sơ thiền để thấy được tận cùng bản chất Chân Đế của Danh Sắc và chấm dứt phiền não một phần hay toàn bộ. Dĩ nhiên thiền chứng càng cao thì khả năng Tuệ Quán càng được hỗ trợ hữu hiệu hơn. Trên tất cả, Tứ thiền Sắc Giới được xem là phương tiện tốt nhất cho Thiền Quán bởi nó là ranh giới sau cùng giữa Danh và Sắc và khả năng định tâm ở trình độ này không có gì để bàn nữa. Trình độ thiền Vô Sắc tuy có cao hơn nhưng nó không thích hợp cho việc quán chiếu sắc pháp.

Cả 40 đề mục Thiền Chỉ đều được nhắc đến trong Chánh Tạng, nhưng đề mục hơi thở (anapanasati) được xem là phổ biến và đa dụng nhất bởi có thể cùng lúc là đề mục Thiền Chỉ (samatha) để dẫn đến tứ thiền Sắc Giới và cũng là đề mục Thiền Quán (vipassana) để dẫn đến Tứ Thánh.

Không như những đề mục khác trước sau chỉ là một, đề mục hơi thở lúc đầu thì thô thiển nặng nề, càng về sau thì mỗi lúc một trở nên vi tế dần, đến lúc gần như mất hẳn. 

Để tu tập đề mục đặc biệt này, hành giả bắt buộc phải có 5 quyền (indriya - Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ) vững mạnh.

Thực ra nếu đọc kỹ trong chánh tạng thì ta sẽ thấy Đức Phật đã hướng dẫn rất rõ ràng phương thức tu tập đề mục này qua công thức Tam học hỗ tương: Giới sinh Định, Định sinh Tuệ, Tuệ dẫn giải thoát. Hành trình đó được bắt đầu từ việc trải qua ba ấn chứng (nimitta), quân bình 5 quyền và dồi mài 7 giác chi. Bất cứ đường lối hành trì nào không đi đúng hướng dẫn này cũng phải được xem là tà pháp, hành giả coi như tự hủy công phu của mình.

Đồng thời, với sự hỗ trợ của tứ thiền Sắc Giới chứng được từ đề mục hơi thở, hành giả có thể cùng lúc tu tập thêm bốn đề mục hộ thân: Niệm Phật, Niệm Chết, Niệm Từ Tâm và Quán thể trượt, cũng như cả 10 đề mục Kasina nếu muốn để có thể lão luyện trong việc hiện thông.

Phép quán Tứ Đại cũng được xem là một sự hỗ trợ quan trọng để hành giả chứng thiền, song song với đề mục Thể trượt và Tử thi. Các thiền sư chủ trương chỉ quán song tu cũng rất tán thành việc tu tập đề mục màu trắng để tao thêm ánh sáng trong lúc theo dõi hơi thở theo Thiền Chỉ và chính nó cũng rất có lợi cho công phu Tuệ Quán sau đó.

Nói vậy tôn chỉ của dòng thiền Pa Auk là tập trung tu tập đề mục hơi thở như là cách tốt nhất để trau dồi chánh định, cùng với các đề mục hỗ trợ gồm quán tứ đại, 10 Kasina và 4 đề mục hộ thân.

A. HÀNH TRÌNH ĐỊNH HỌC

Đạo đế là con đường dẫn đến Diệt Đế (Níp Bàn), cứu cánh chấm dứt Khổ Đế (vô dư Níp Bàn) và chấm dứt Tập Đế (hữu dư Níp Bàn). Đạo Đế bao gồm Bát Chánh Đạo mà nói gọn lại là Tam học. Tùy theo trình độ tu tập Tam học mà hành giả từng bước trừ diệt được các hình thức phiền não từ thô đến tế.

Phiền não thô nhất  là thứ  phiền não biểu hiện qua thân nghiệp và khẩu nghiệp bất thiện, ai nhìn cũng thấy. Giới Học  có công năng đối phó với dạng phiền não này.

Dạng phiền não thứ hai vi tế hơn một chút, không biểu hiện qua thân khẩu, nên chỉ có đương sự và người chứng Tha Tâm Thông biết được mà thôi. Ta phải dùng Định Học cụ thể là các tầng thiền định để trấn áp các phiền não dang này theo kiểu lấy đá đè cỏ, thay vì Giới Học đối với dạng phiền não đầu tiên chỉ có tác dụng như người ta cắt cỏ.

Dạng phiền não thứ ba được gọi bằng thuật ngũ pali là Anusayakilesa ám chỉ khả năng tái hiện của phiền não mà hiện giờ có thể đang vắng mặt. Để đoạn trừ khả năng tái hiện này của phiền não hành giả phải tu tập rốt ráo Tuệ Học qua việc quán chiếu Danh Sắc để chứng đắc tối thiểu Sơ Đạo (Tu Đà Hườn). 

Nói vậy ta mới thấy được mối tương quan mật thiết của Tam học, mà đặc biệt ở đây là Định Học và Tuệ Học trong pháp môn Chỉ Quán song tu.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh, kinh samadhistta, Đức Phật đã dạy rất rõ: Hãy tu tập chánh định vì người có định đúng mức mới có thể thấy được các pháp như thật.

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, một hành giả chỉ mới có k.hả năng nhất tâm trong một hai giờ đồng hồ thì khó mà quan sát tường tận được các thể trược một cách đúng mức, như cái nào là đất, nước hay lửa, gió. Trừ phi hành giả là người đã chứng tối thiểu Cận Định ngay lúc đó.

Người chứng thiền, tối thiểu Sơ Thiền, ngoài khả năng định tâm (Định học hay Định quyền), trí tuệ (Tuệ quyền hay Tuệ học) của họ cũng sắc sảo tinh tường hơn người bình thường. Chúng tôi nhắc tới lui chuyện này cũng chỉ nhằm mục đích xác định mức cần thiết và tầm quan trọng của việc trau dồi khả năng định tâm mà rất nhiều hành giả chuyên Quán thường xuyên có vẻ xem nhẹ. Bởi rõ ràng ngài Xá Lợi Phất đã xác định trong kinh Trạm Xe (Trung Bộ) rằng Định Học là Tâm Tịnh trong Thất Tịnh, không có Tâm Tịnh thì không thể có Đoạn Nghi Tịnh, Tri Kiến Tịnh, giai đoạn bắt buộc để hành giả chấm dứt phiền não. chứng ngộ Níp Bàn. Thanh Tịnh Đạo ghi chú thêm rằng Tâm Tịnh là Cận Định trở lên. Còn mức định tâm theo phút, theo giờ tức theo thời khóa mà tu của hầu hết hành giả hôm nay phần lớn chỉ ở mức sát-na định. Trình độ định tâm này không đủ để hành giả có thể chuyên chú và an lạc trong suốt nhiều giờ và như vậy việc quán chiếu chắc chắn sẽ bị gián đoạn. Nhiều lúc sự quán chiếu gần chạm mức, thì hành giả đã bị tác động bởi 5 triền cái như bị nhứt mỏi, buồn ngủ hay phóng tâm chuyện gì đó rồi tham hay giận.

B. PHÉP NIỆM HƠI THỞ

Có mấy bước căn bản mà hành giả tu tập đề mục hơi thở phải nhớ là luôn hít thở trong tỉnh thức để biết rõ hơi thở đang vào hay ra và dài hay ngắn. Sau cùng là sự ghi nhận toàn bộ để có thể chú tâm trên đó. Ở đây trong Thanh Tịnh Đạo có hướng dẫn rõ rằng bước đầu hành giả nên chọn tư thế ngồi thẳng lưng, giữ mình thật thỏa mái, hai mắt nhắm hờ, hít thở thật tự nhiên không gượng ép và chú ý vào một trong hai điểm mũi hoặc môi trên. Sau đó hành giả bắt đầu đếm số (ganana - sổ tức): Hít vào thở ra đếm một, hít vào thở ra đếm hai ... cứ vậy cho đến 8, con số tượng trưng cho bát Chánh Đạo, công phu đếm thở này có thể kéo dài một hai giờ đồng hồ và sau ít phút nghỉ ngơi hành giả có thể tiếp tục làm lại từ đầu.

Chính nhờ việc đếm số này, hành giả sẽ dần dần có được Niệm và Định không chỉ trong lúc đếm, mà còn có thể suốt ngày hít thở trong chánh niệm ngay bất cứ lúc nào có thể. Gọi là hơi thở dài hay ngắn là dựa vào thời gian lâu hay mau của mỗi hơi thở. Từ sự ghi nhận khó khăn buổi đầu do định yếu, dẫn dần rồi thì hành giả có thể dễ dàng ghi nhận toàn bộ từng hơi ra vào theo cách một người giữ cổng hay anh thợ cưa mà trong kinh đã nhắc tới.

Người giữ cổng không cần biết người ta từ đâu đến và sẽ về đâu, chuyện họ là nam hay nữ hoặc ăn mặt thế nào cũng không quan trọng. Việc duy nhất mà người giữ cổng phải làm chỉ là quan sát ngay ngạch cửa để biết có người ra và có người vào, chỉ vậy thôi. Hành giả cũng xem mũi hay môi của mình là ngạch cửa để quan sát hơi thở vào ra. Hoặc hành giả cũng giống như anh thợ xẻ gỗ không cần nhìn vào khúc gỗ hay toàn bộ cây cưa mà chỉ việc nhìn vào chổ răng cưa chạm vào thân cây. Không còn gì phải làm hơn nửa.

Điều phải ghi nhớ thêm ở đây là hành giả lúc nào cũng phải để hơi thở vào ra tự nhiên không can thiệp, mà chỉ quan sát chúng. Tâm càng chuyên chú thì Định càng mạnh và Định càng mạnh thì hơi thở càng trở nên vi tế, thậm chí sẽ có lúc hành giả sẽ thấy như mình không còn thở nữa. Các ngài dạy rằng lúc đó hành giả không nên sợ hãi hay thắc mắc mà chỉ việc tiếp tục chú ý vào 2 điểm môi hay mũi là chổ hơi thở ra vô mọi khi thì sớm muộn gì cũng sẽ thấy nó trở lại.

Quá trình tu tập hơi thở nếu suông sẻ thì sẽ diễn ra theo trình tự như sau:

- Hơi thở vào ra lúc đầu mới tu tập được gọi là Sơ Tướng (parikammanimitta).

- Khi định tâm vững mạnh hơn nữa thì hơi thở sẽ có lúc không phải vô hình vô sắc nữa mà đối với hành giả lúc này nó trở thành một ấn tượng hay vật thể có thể nhìn thấy như một miếng bông gòn, một sợi chỉ hay mảnh lụa phất phơ. Tùy người và tùy lúc mà những ấn tượng này có hình dáng và màu sắc khác nhau. Hình ảnh này của hơi thở được gọi là Nhiếp Tướng (uggahanimitta).

- Nếu hành giả tiếp tục đi tới không bỏ cuộc nửa chừng thì Nhiếp Tướng trong giai đoạn tiếp theo sẽ có thêm ánh sáng hoặc trở nên trong suốt. Điều đặc biệt là tuy hơi thở gần như là một đề mục vô hình vô sắc nhưng ấn tướng của đề mục này thì lại rất cụ thể. Các ngài dạy rằng dầu hơi thở có trở thành một ấn tướng như thế nào đi nửa thì hành giả nhớ trước sau chỉ tập trung định tâm vào môi và mũi của mình mà thôi. Dầu nó lúc này ngó như một làn khói hay dãi lụa thì nhớ đừng chú ý phần ngoài của chúng, mà chỉ tập chú vào môi hay mũi mà thôi. Ấn tượng của hơi thở trong giai đoạn này được gọi là Tự Tướng (patibhaganimitta). Chữ patibhaga nghĩa là tương tự hay giống như. Trong pháp môn thiền chỉ khi hành giả sắp đắc thiền thì đề mục ban đầu lúc này sẽ thành ra một hình ảnh hay ấn tượng nào đó không giống nư cũ nữa, không giống nhưng cũng chính là cái cũ, tuy là cái cũ nhưng lúc này không còn giống hệt vậy nữa, chỉ tương tự thôi. Đó là lý do của thuật ngữ patibhaganimitta mà các cao tăng Việt Nam xưa nay vẫn dịch là Quang Tướng, nhằm nhấn mạnh khía cạnh phát sáng của các đề mục trong giai đoạn này.

Với một người có nhiều phước duyên thì kể từ lúc Tự Tướng xuất hiện, 5 triền cái sẽ dần dần phai nhạt, cũng có nghĩa là các phiền não nói chung cũng sẽ từng bước nhường chổ cho định tâm. Lúc này thời gian định tâm của hành giả trong ngày sẽ nhiều hơn thời gian phóng tâm và thời gian sống thiện sẽ nhiều hơn sống bất thiện. Ta phải nhận rằng đây là kỳ tích đối với một phàm phu. Tôi muốn nhắc lại ở đây điều tối quan trọng là những hình ảnh đẹp đẽ mà hành giả thấy được từ ấn tướng hơi thở không quan trọng bằng chính hơi thở. Nó có xuất hiện trong hình thức nào thì hành giả cũng chỉ quan tâm đến tình trạng ra vào mà thôi. Trong trường hợp các ấn tướng biến mất, cũng không có gì đáng ngại. Hành giả cứ tiếp tục theo dõi  hơi thở như chưa có gì xảy ra. Các ấn tướng có thể sẽ tái hiện rồi biến mất như cũ, trong thời gian lâu mau bất định, với hành giả trước sau cũng chỉ có hơi thở. Hành giả xem hơi thở quan trọng như một bà hoàng hậu chuyên tâm chăm sóc bào thai của mình vậy, hay như một người nông dân dốc lòng chăm sóc ruộng lúa. Mỗi lúc hành giả sẽ thấy rằng việc quân bình 5 Quyền là vô cũng quan trọng.

Qua đó Định và Cần là một cặp và Tín với Tuệ là một cặp, chúng phải luôn được niệm điều hợp chặt chẽ và hợp lý. 5 Quyền quân bình thì tự nhiên Thất Giác Chi cũng được quân bình. Từ đó, lúc nào tâm quá thụ động, yếu ớt thì hành giả phải nhờ đến sự hỗ trợ của Trạch, Cần, Hỷ Giác chi, và ngược lại khi tâm quá xung động, bồng bột thì hành giả phải nhờ đến sự có mặt của Tĩnh, Định, Xả Giác Chi. Niệm Quyền và Niệm Giác Chi luôn có vai trò kềm giữ các thứ còn lại. Đức Phật gọi niệm là một yếu tố hạt nhân mọi nơi mọi lúc (sabbatthika) đối với các thiện pháp.

Các ngài nói rằng với một người chứng tứ thiền Sắc Giới thì ngoài việc quan sát nội tâm của mình, vị đó có thể thấy được cả Sắc Ý Vật để từ đó quan sát được cả dong tâm Hữu Phần và nhờ vậy cũng thấy được Tự Tướng xuất hiện ra sao trong Ý môn. Người càng tinh tấn thì việc quan sát này sẽ càng lúc dễ dàng hơn là một người thiếu tinh tấn để thời gian tu thiền bị gián đoạn liên tục. Đề mục hơi thở có thể dẫn đến Ngũ Thiền và nhiều hành giả do từng học hỏi giáo lý có thể rất dễ lầm tưởng là mình đã đắc tầng thiền này, tầng thiền kia nhưng họ đã quên rằng chỉ riêng việc muốn chứng sơ thiền, họ phải cùng lúc làm được 2 việc là trấn áp 5 Triền cái và biến 5 tâm sở tợ tha (Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Định) xưa giờ chỉ có trong tâm Dục Giới nay trở thành 5 chi thiền để nhận biết cảnh đề mục và đối phó cảnh phiền não. Một người tinh tấn tu tập và thiết tha lý tưởng thiền định thì sau một thời gian chứng thiền sẽ có được 5 khả năng mà hành giả dễ ngươi không làm được. Kinh gọi đó là 5  pháp tự tại (Vasi):

Quán Chiếu Tự Tại: Là khả năng nhận diện từng chi thiền.

- Nhập Định Tự Tại: Là khả năng vào thiền bất cứ lúc nào mình muốn.

- Trụ Thiền Tự Tại: Là khả năng kéo dài thời gian nhập thiền như ý muốn.

- Xuất Định Tự Tại: Là khả năng ra thiền nhanh chóng như ý muốn. Với những vị giỏi thần thông thì chính khả năng này giúp họ có thể nhanh chóng chuyển đổi đề mục để trong một khoảnh khắc có thể biến hiện nhiều loại thần thông khác nhau.

- Phản Khán Tự Tại: Là khả năng nhìn lại các chi thiền để có thể nhàm chán chúng nhằm tiến lên tầng thiền cao hơn. Người muốn chứng lên các tầng thiền cao DỨT KHOÁT phải có khả năng này.

Từ sơ thiền, khi thấy được sự thô thiển thấp kém của nó, hành giả tự nhiên lìa bỏ 2 chi Tầm Tứ để chứng nhị thiền. Cũng theo cách chán cũ tìm mới, hành giả bỏ thêm chi Hỷ để chứng Tam Thiền, sau đó bỏ thêm chi Lạc để chứng Tứ Thiền. Lúc này tâm thiền của hành giả chỉ còn lại 2 chi Định và Xả (phân tích theo tạng kinh).

Tầng Thiền              Chi Thiền

Sơ Thiền                    Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Định

Nhị Thiền                    Hỷ, Lạc, Định

Tam Thiền                    Lạc, Định

Tứ Thiền                        Định, Xả