Thứ Tư, 22 tháng 9, 2021

Ái trợ sanh giới cấm thủ

 


ÁI TRỢ SANH GIỚI CẢM THỦ

Dầu là muốn đạt tới cứu cánh giải thoát nào đó hoặc để được sanh lên thiên đàng cũng đều là Ái cả. Từ sự mong mỏi đó, người ta chấp nhận một pháp môn tu tập tà vạy, hoặc lợi dưỡng hoặc khổ hạnh, đó chính là Ái trợ sanh cho Giới Cấm Thủ.
Trong thời kỳ Đức Phật, có hai du sĩ nọ, vì muốn sanh thiên nên chủ trương tu theo pháp môn khổ hạnh bằng cách bắt chước theo con bò, con chó. Hai loài thú này sinh hoạt thế nào thì họ cũng làm theo như vậy. Đến khi gặp được đức Phật, Ngài giải thích cho họ biết đó là đường lối sai lầm thì cả hai mới quay về với Phật giáo.
Nói tóm lại, để mưu cầu hạnh phúc cho đời sau mà lại mù quáng chấp trì một hạnh tu, một giáo điều hay giới cấm nào đó sai lầm, đi ngược lại giáo pháp của chư Phật thì đó là Giới Cấm Thủ mà cũng là trường hợp để Ái làm duyên cho Giới Cấm Thủ.
Tác phẩm: Tìm Hiểu Triết Học Phật Giáo
Dịch Giả : Tỳ Kheo Giác Nguyên

Hỏi đáp về xuất gia


HỎI

Con chào Sư
Con theo dõi các bài Sư post, học từng ngày nhưng vẫn thấy bản thân còn thiếu cái gì đó mà con tìm chưa ra. Năm nay con 50 tuổi, độc thân, suy nghĩ thường xuất hiện trong con: nghỉ hưu sớm, lo việc tu tập, có thể xuất gia ...
Sư cho con hỏi:
1 - Người lớn tuổi có nên xuất gia không?
2 - Những thuận lợi / bất lợi cho người lớn tuổi xuất gia?
Con cám ơn Sư dành thời gian cho con.
ĐÁP
Câu trả lời có thể vắn tắt trong mấy điều sau đây:
- Nhưng vì không phải ai cũng có tố chất giống nhau, nên nhiều người sau khi xuất gia xong lại sống đời vô ích tẻ nhạt chỉ vì trước khi xuất gia không biết tự đặt ra một hướng đi cụ thể. Tình hình lúc này mới bi đát: Không còn háo hức tu phước (bố thí, phục vụ,...) như hồi cư sĩ và cũng không có được lý tưởng sống tích cực của một tu sĩ.
- Thông thường thì một người xuất gia luôn có thời gian và điều kiện tâm lý để sống đạo hết mình, như có thể trở thành một hành giả hay học giả toàn thời gian, nhờ không lo bận tâm tục sự như cư sĩ.
- Phải tự xét mình hiện có vấn đề gì nặng nề liên quan sức khỏe, gia đình, quan hệ xã hội gì đó hay không. Vì một khi xuất gia thì phải nhẹ gánh hẳn hoi.
☝️ Nếu xét không kỹ thì chỉ tự chuốc phiền và mất thời gian của một cư sĩ tốt. Xin nhớ câu này: Với nhiều người, đời sống xuất gia không hay ho gì, xin cứ làm một cư sĩ cho nó lành.
- Nắm được mấy vấn đề vừa nói thì có thể tự xét cái tuổi đời của mình có thể sống theo lý tưởng nào của một tu sĩ: Vùi đầu nghiên cứu học hỏi giáo lý hay chuyên tâm tu tập thiền định (mà việc này cũng cần có chút kiến thức giáo lý căn bản).
Sư Giác Nguyên


Thứ Tư, 15 tháng 9, 2021

Nếu biết được như thánh nhân

 


NẾU MÌNH BIẾT ĐƯỢC NHƯ THÁNH NHÂN THÌ CÁI GHÉT CÁI THÍCH CỦA MÌNH DỨT KHOÁT SẼ KHÁC ĐI NHIỀU LẮM.

Các pháp ở đời khi mình thật sự còn chưa không hiểu thì mình còn thích cái này cái kia, nếu mình biết được như thánh nhân thì cái ghét cái thích của mình dứt khoát sẽ khác đi nhiều lắm.
Ví dụ, nhẹ nhất là vị Tu đà hườn, nếu tính theo chi pháp trên mặt giấy thì rõ ràng trong 10 phiền não vị này chỉ mới trừ có 3 (Thần kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ). Tuy nhiên Thân kiến là cái quan trọng bậc nhất. Vị này chấm dứt, chặn đứng dòng sanh tử vô thỉ vô chung được là nhờ ở chỗ dứt trừ được Thân kiến này. Thân kiến mất rồi, khả năng sinh tử không còn nữa, mấy kiếp còn lại chỉ là cái trớn mà thôi chớ vị đó không còn chấp tôi, chấp ta trong năm uẩn thì còn cách nào hưởng thụ giống chúng ta.
Sơ quả Tu-Đà-Hườn ( Sotāpatti)
Chấm dứt ba thứ phiền não quan trọng bậc nhất trong việc luân hồi là Thân Kiến (quan niệm ngã chấp trong thân tâm)Hoài Nghi (sự hoang mang trong đạo giải thoát). Giới Cấm Thủ( bảo thủ, cố chấp, phí công sức tu tập mà chẳng tìm thấy sự giải thoát ). Vị này chỉ còn tái sinh tối đa bảy kiếp phải chứng La-Hán.
Thân kiến có nghĩa là người này biết chắc rằng toàn bộ phàm, thánh, người, thú, nhân thiên chỉ là danh sắc luôn luôn vô thường sanh diệt. Không hề có một cái gì là tôi, ta, của tôi trong 5 uẩn. Đó gọi là lìa bỏ ngã chấp trong 5 uẩn. Lìa thân kiến thì lìa được hoài nghi. Vị đó không còn hoang mang nghi hoặc : Tôi là ai ? Ở đâu tôi tới ? Tôi sẽ đi về đâu ? v....v . Lúc đó vị đó chỉ thấy rất đơn giản cái khối 5 uẩn này nó do các duyên thiện ác mà có. Do không hiểu 4 Đế nên người ác làm ác bị đọa, người lành làm lành để được đi lên. Cuối cùng cũng quẩn quanh trong ba cõi sáu đường. Hiểu như vậy vị đó chỉ tập trung tu tập. Biết rất rõ mình là ai trong trời đất này. Không còn giới cấm thủ nghĩa là vị này không còn chấp nhận những giáo điều tín điều nằm ngoài tinh thần Bát Chánh Đạo.
Vị Tu-đà-hườn biết rõ bằng toàn bộ sinh mệnh của mình rằng sự đau khổ và con đường gây khổ có một cứu cánh chấm dứt là Niết bàn: không còn nhân sanh khổ, không còn quả khổ thì sẽ không còn đau khổ. Con đường dẫn đến Niết bàn đó là Bát Chánh Đạo. Bà con nhớ giùm, con số 8 của Bát Chánh Đạo là một trong một tỷ cách diễn dịch con đường giải thoát. Đối với một số người, Đức Phật chỉ dùng một chữ: appamāda. Trước khi Ngài Niết bàn, câu nói cuối cùng của Ngài là “vayadhammā saṅkhārā, appamādena sampādetha”, nghĩa là vạn hữu là vô thường hãy sống bằng sự cẩn trọng không dễ ngươi. Đây là câu cuối cùng của Bậc Đạo Sư, mình không hề thấy có số 8, số 3 , số 4 , số 6 … ở đây. Ngài chỉ nói “vạn hữu là vô thường, không sống dễ ngươi”.
Chánh kiến, chánh tư duy là tuệ học. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là giới học, còn lại là định học. Gom chung là Tam học hoặc là Vô lậu học. 37 phẩm trợ đạo gồm Tứ Niệm Xứ, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo, Như Ý Túc đều là Tam học nói rộng. Điểm nổi bật của vị Tu-đà-hườn thấy chắc nên tin chắc.
Trí Tu-Đà-Hườn mà dừng lại không đi xa nữa thì mình tái sanh chỉ tối đa 7 kiếp nữa thôi, đi về đâu không cần biết, chỉ biết là không bị đọa bốn đường xấu đó là : súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-la và địa ngục. Còn chuyện đi về đâu là tùy mình có đắc thiền hay không và tầng thiền mình đắc là thiền nào thì mình về cõi tương ứng.Trong kinh nói vị Tu-đà-hườn, thí dụ như : tâm sân, họ không còn ganh tị, ghen ghét, bùn xỉn. Nhưng vị này cũng còn nhăn mày, nhíu mặt, đổ lệ, khó chịu bất mãn nhỏ xíu trong thâm tâm. Cái sân của vị này không còn đủ giết chóc, hành hạ các chúng sanh khác .
Mặc dù vị Tu đà hườn có thể có chồng, có vợ, có con, cũng đi làm lụng, có gia tài, có tài sản nhưng họ toàn là những tay giống như “Thủy thượng phiêu Cầu Thiên Nhẫn”. Trong võ lâm ngũ bá ngoài Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, Trung Thần Thông, còn có nhân vật số sáu là Cầu Thiên Nhẫn, tay này có khả năng Thủy thượng phiêu khinh công tuyệt đỉnh đi trên mặt nước không chìm xuống, chân chỉ chạm nước nhẹ thôi. Tu đà hườn được xem là những tay Thủy thượng phiêu thuộc hàng thượng thừa vẫn đi trên cõi đời này, vẫn cư trần nhưng bất nhiễm, hòa quang nhưng không hỗn tục nếu cần thì vẫn hòa với mọi người nhưng không đồng.
Sư Giác Nguyên
Tác Phẩm : Kinh TƯHG1

Tuổi già, bệnh tật và cái chết ...

 


KHÔNG AI TRÁNH ĐƯỢC TUỔI GIÀ, BỊNH TẬT, CÁI CHẾT, SỰ MẤT MÁT. MỌI THỨ ĐỀU PHẢI KẾT THÚC. LÀ ĐỆ TỬ CỦA ĐỨC PHẬT CÓ HỌC ĐẠO, CHÚNG TA KHÔNG SỐNG TRONG SỰ BI QUAN, SỢ HÃI MÀ PHẢI BIẾT RÕ ĐỂ CÓ SỰ CHUẨN BỊ THẬT TỐT.

Phải thấy và chấp nhận những sự thật đó, không phải để sống bi quan hay sợ hãi hoảng loạn, mà để có những chuẩn bị thật tốt. Tất thảy những chuyên gia cứu hộ trên hành tinh này, cứu hộ hàng không, cứu hộ hàng hải, cứu hộ đường bộ, nhân viên cứu hỏa hoặc những tai nạn lao động xã hội nói chung, tất thảy chuyên gia cứu hộ họ đều có nhận xét giống nhau, trong mọi tình huống, trong mọi hoàn cảnh, các nạn nhân bình tĩnh luôn có cơ hội sống sót cao hơn những người hoảng loạn thiếu bình tĩnh. Đó là họ không biết đạo. Họ chỉ nói tới chữ thoát thôi. Trong đạo mình thêm một điều nữa, bên cạnh cơ hội thoát nạn, nếu không thoát được, thì cơ hội đi lên của người có chuẩn bị nó vẫn cao hơn là người thiếu chuẩn bị. Là vì mỗi người phải đi đầu thai theo một trong bốn thứ nghiệp sau đây :
1- Trọng nghiệp thiện ác - Garukamma
Gồm những nghiệp thiện ác có khả năng mãnh liệt không thể ngăn chặn được bằng bất cứ một nghiệp nào khác và chắc chắn sẽ cho quả Dị Thục ngay đời kế tiếp.
Trọng nghiệp thiện, là trong đời mình từng làm những việc công đức lớn lao, như cứu mạng nhiều người hay là hộ trì tam bảo bằng những việc làm quan trọng. Giúp người đức độ hoặc ủng hộ tam bảo bằng công đức, những Phật sự quan trọng. Trọng nghiệp bất thiện là mình làm những tội lỗi giết A-la-hán (arahattaghāta), chia rẽ tăng chúng (sanghabhedana) làm thân Phật chảy máu (lohituppāda), giết cha, giết mẹ.
2- Thường nghiệp thiện ác - Acinnakamma
Là những cái nào mình cứ làm hoài, thí dụ như mình là tiểu thương từ năm 15 tuổi là bắt đầu đứng bán hàng tạp hoá với mẹ, cân đong đo đếm, tính tiền suốt nhiều năm như vậy, cả đời cứ buôn bán hoặc cả đời cứ mò cua bắt ốc buôn gian, cả đời cứ bài bạc nghiện ngập chích hút, cả đời đâm heo thuốc chó lừa thầy phản bạn mãi quốc cầu vinh. Cả đời cứ làm những chuyện đó thì gọi là thường nghiệp. Cái gì không cần to lắm nhưng mình cứ làm hoài nó cũng có sức mạnh kinh dị.
3- Khinh thiểu nghiệp thiện ác -Katattakamma
Là những nghiệp thiện ác mình làm lai rai, hoặc lâu lâu làm một lần, mà thường khi ta cũng không nhớ đến.Thí dụ như đi chùa một tháng đi một lần, ba bốn tháng đi chùa một lần, lâu lâu cũng có móc túi ra làm phước chỗ nhà chỗ kia, lâu lâu ai rủ đi câu, đi săn, đi đá gà, ai rủ đi nhậu đi đánh bài cũng đi, ai rủ đi từ thiện cũng đi.
4- Cận tử nghiệp thiện ác -Maranasannakamma
Là trước giây phút lâm chung, tâm mình nó leo lét giống như người chết đuối gặp cái gì chụp cái nấy, đó gọi là nghiệp cận tử. Đừng coi thường nó, thấy nó yếu nhưng quan trọng lắm. Nghiệp cận tử là cái phao cứu sinh hay trái thủy lôi là tuỳ theo mỗi người. Trái thủy lôi là loại trái nổ người ta để dưới nước, trên bờ thì mìn lựu đạn là địa lôi, lúc mình chết đuối gặp cái gì chụp cái nấy, nếu mình chụp cái phao thì khỏe nhưng nếu mình chụp nhầm trái thủy lôi thì coi như game over hết phim.
Nếu ta đã tạo một trong các loại Trọng nghiệp như đã kể thì chính nó sẽ đưa ta đi tái tục ngay kiếp sau ở một cảnh giới tương ứng. Trong trường hợp không có Trọng nghiệp thì Cận tử nghiệp là loại nghiệp có sức mạnh thứ hai. Nên nhớ Cận tử nghiệp luôn chịu một tác động rất lớn từ Thường nghiệp. Nghĩa là tuỳ thuộc vào thói quen thường ngày mà Cận tử nghiệp kia có đủ mạnh để ảnh hưởng đến việc tái sinh của ta hay không.
Kinh kể rằng ở Tích Lan ngày xưa có một vị La Hán tên là Sona. Thân phụ của ngài cả đời là một thợ săn, về già đi xuất gia sống chung chùa với người con trai. Phút cận tử, vị sư già này nhìn thấy Thú tướng địa ngục hiện ra, và dĩ nhiên rất sợ hãi, đem chuyện kể cho con mình là Sona. Vị thánh tăng nhờ người khiêng giường của cha đến bên cạnh ngôi đại tháp của chùa và cho trang hoàng ở đó thật nhiều bông hoa, nhang đèn. Khi nhà sư già nhìn thấy cảnh tượng này rồi khởi tâm hoan hỷ thì hình ảnh Thú tướng kia lập tức biến mất. Thay vào đó là Thú tướng thiên giới và vị sư già được sinh thiên.
Chuyện thứ hai là vua Tích Lan trên Dutthāgamini. Suốt thời bình sinh, vua là một cư sĩ thuần thành rất mực. Lần đó, vua bị đảo chánh và phải lẩn trốn trong rừng sâu, hoàn cảnh cực kỳ bi đát, trong tay chỉ còn lại một bát cơm. Nhưng vua không muốn ăn một mình, cầm bát cơm mà ông cứ thầm mong nhìn thấy được một tỳ kheo đầu Đà nào đó trong rừng để cúng dường. Khi ấy một vị A-La-Hán lục thông đã xuất hiện trước mặt vua, ngay trên hư không. Vua mừng rỡ và cúng hết phần cơm cho ngài. Sau đó biết vua đang đói, vị A-la-hán lúc này đã đi mất nhưng đã dùng thần thông gởi đến vua một bát cơm đầy qua đường hư không để củng cố niềm tin của vua. Về sau cuộc nội loạn chấm dứt, vua lấy lại được ngai vàng và càng hết lòng hộ trì Phật pháp. Vua đã cho xây dựng rất nhiều đại tháp để thờ phụng xá lợi Phật. Tất cả công đức của vua sau đó đã được ghi lại thành sách, tức là cuốn Thūpavamsa là một trong những sử liệu quan trọng bậc nhất của Phật giáo Tích Lan. Sau này, lúc lâm chung, vua được nghe người ta đọc lại bộ sách này và với hồi ức mãnh liệt về chuyện cũ, vua đã sanh về cõi Đâu Suất. Nói vậy có nghĩa là có lúc Cận tử nghiệp có thể là những Thường nghiệp được tái hiện trong giờ cận tử.
Ngài Buddhaghosa có đưa một ví dụ về 4 loại nghiệp trên như sau : Mỗi sáng, khi một chuồng bò được mở cửa thì con bò mạnh nhất hoặc con bò đứng gần cửa nhất sẽ có dịp chạy ra ngoài đầu tiên. Con bò mạnh nhất tượng trưng cho Trọng nghiệp. Nếu không có con bò này thì con bò gần cửa chuồng nhất (tượng trưng cho Cận tử nghiệp) sẽ là con đầu tiên chạy ra. Loại nghiệp thứ ba đứng sau Cận tử nghiệp là Thường nghiệp. Và như đã nói loại nghiệp này cũng có thể biến thành Cận tử nghiệp khi được dàn dựng bối cảnh.
Loại nghiệp yếu nhất đó là Khinh thiểu nghiệp. Tuy nói là yếu nhất nhưng đôi khi nó cũng có thể là Cận tử nghiệp để đưa người đi tái sinh. Đó là trường hợp của hoàng hậu Mallikā. Bà suốt đời là một tín nữ thuần cố đạo tâm, là vị hoàng hậu được sủng ái nhất của vua Ba Tư Nặc (một vị Phật tương lai). Chính bà là người đã nghĩ ra buổi cúng dường Vô Song Thí (asadisadāna) đến Đức Phật, nhưng phút lâm chung bà đã không nhớ gì mà chỉ có lòng hối hận vì đã có một lần nói dối gạt vua. Chuyện đó chỉ là Khinh thiểu nghiệp nhưng cũng đã trở thành Cận tử để đưa bà xuống địa ngục trong 7 ngày (tính theo thời gian nhân loại ) trước khi sanh về cõi Đâu Suất .
Ở đây cũng vậy, lúc mình đang chập chờn leo lét cuối đời, lúc đó một lời kinh tiếng kệ nó lọt vào tai biết đâu đó là một gợi ý để mình theo đó mình đi. Tôi giảng đề tài ra ngoài bài kinh nhưng rất cần thiết. Một vị đệ tử của Đức Phật có học đạo, cho nên biết rõ già bệnh chết không thể nào tránh được, mọi thứ có rồi phải mất đi, mọi thứ đều phải có lúc kết thúc, vị đó thấy rõ biết rõ. Nhưng biết rõ không phải sống bi quan, sống sợ hãi mà để có những chuẩn bị thật tốt.
Sư Giác Nguyên

Bỏ thân sanh tử

 


MUỐN BỎ THÂN SANH TỬ, BẬC HIỀN GIẢ PHẢI TÍCH CỰC ĐOẠN TẬN HAI TẬP KHÍ GÌ ?

Thế gian luôn nằm trong lẽ tương đối. Có tối ắt có sáng, có sự lao lung đọa đày thì tất phải có một trạng thái tịch nhiên giải thoát. Điều đó từ vô thuỷ đến vô chung vẫn đương nhiên là một quy luật. Do vậy, trong thân sanh tử mà lại tầm cầu một cứu cánh bất tử thì đó không phải là một điều bất khả thực hiện.
Như đã nói, nếu thân sanh tử này là cội cây, thì Tham Ái, Vô Minh chính là gốc rễ của nó. Muốn bỏ thân sanh tử, bậc hiền giả trước hết phải tích cực gia công đoạn tận hai pháp tập khí căn bổn ấy. Vắng mặt chúng, tấm thân sanh tử sẽ đổ gục. Như Ngài Anuruddha cũng đã viết trong Abhidhammatthasangaho, phần giảng về Duyên Khởi : “Tesameva ca mūlānam nirodhena nirujjhati : Một khi hai yếu tố cội rễ của dòng luân hồi bị phá vỡ thì lập tức dòng luân hồi cũng được chận đứng.”.
Đốn cây thì phải tận gốc, ngăn nước thì phải tận nguồn. Trong chuyện tu hành giải thoát, phương châm này vẫn chính xác. Để nhấn mạnh điều này, trong Trung Bộ Kinh (bài Ái Tận) chính Đức Phật đã tuyên bố “Avijjāyatyveva asesavirāganirodhā sankhāra-nirodho:.. Từ sự tịch diệt của Vô Minh sẽ là sự tịch diệt của Hành..” Và trong Dhammapada câu 338, Ngài lại một lần nữa xác định tính chất tập khí của Tham Ái :
Yathāpi mūle anupaddave dalhe
Chinnopi nikkho punareva rūhati
Evampi tanhānusaye anūhate
Nibbattati dukkhamidam punappunam
“Như một cội cây chưa bứng tận gốc rễ, hay nói cách khác cội rễ của nó còn bám chặt vào đất thì dù có chặt đến mấy đi nữa cây vẫn tiếp tục hồi sinh. Cũng vậy, khi nào Tham Ái tiềm tàng chưa được đoạn tận, thì cho đến khi ấy nỗi khổ sanh tử vẫn cứ mãi tiếp diễn”.
Tác phẩm: Tìm Hiểu Triết Học Phật Giáo
Dịch Giả : Tỳ Kheo Giác Nguyên

Thân kiến

 


THÂN KIẾN LÀ CHẤP VÀO 6 CĂN, 6 TRẦN, 6 CẢNH. TỨC GẮN LIỀN 18 GIỚI VÀO KHÁI NIỆM TÔI VÀ CỦA TÔI

Thân Kiến là gì ?
Là cứ khư khư chấp chặt vào thân, tâm, 6 căn, 6 trần và 6 cảnh. Gọi chung là Thân Kiến. Chấp chặt là sao ? Nhà của tôi, xe của tôi, vợ chồng, con cái, nhà đất bất động sản của tôi, danh tiếng quyền lực, uy tín danh dự của tôi, mắt tai mũi lưỡi này là của tôi, tấm thân này là của tôi, cái thân mình vàng vóc ngọc này là của tôi, má hóp lưng cong này của tôi ..v...v , cứ khư khư chấp vào 6 căn, 6 trần và 6 cảnh, tức là gắn liền 18 giới vào khái niệm tôi và của tôi. Thì đó gọi là Thân Kiến.
Thánh Nhân là gì ?
Là người không còn tiếp tục chiêm bao mộng mị nữa. Thánh nhân thấy rõ mọi thứ do duyên mà có. Vì duyên nào mà mình sanh tử ? Vì duyên không thấy 4 Đế. Không thấy mọi hiện hữu là khổ, thích cái gì cũng là thích trong khổ, muốn hết khổ thì đừng thích trong khổ nữa, thấy cả ba nhận thức ấy chính là con đường thoát khổ. Thiếu bốn cái này được gọi là vô minh trong bốn Đế. Vì có vô minh trong bốn Đế nên nó mới nẩy ra hai đường trốn khổ tìm vui . 1/Làm ác rồi bị khổ 2/Làm thiện được vui. Cả hai khổ vui đều là trầm luân.Thánh nhân thấy điều này cho nên thánh nhân không còn tiếp tục bị hệ lụy trong thiện ác buồn vui nữa. Không lấy khổ vui ( quả của thiện ác ) làm cơ hội thiện ác.
Đây là tinh hoa của Phật pháp, nó ngắn gọn dễ hiểu lắm. Và khi anh tu tập với lý tưởng này thì đối với nhân thì anh lánh ác hành thiện, nhưng đối với quả khổ vui thì anh không có màng, không có lấy đó làm cái cớ để mà anh tiếp tục luân hồi nữa .
Phàm phu thích gieo nhân ác, ghét nhân thiện, nhưng lại thích hưởng quả thiện và ghét sợ quả ác .Trong room này tôi không biết quí vị có đồng ý chỗ này không ? Nhưng mà tôi thấy cái đó là có thiệt, bây giờ mà kêu đi ngồi thiền, bố thí, niệm Phật, quét chùa, rửa chén, quí vị kiếm giùm tôi được một phần trăm hay không ? Nhân thiện thì chán mà ai cũng khoái nhân ác. Quí vị biết cảm giác đi câu cá, săn bắn, rồi ngồi lê đôi mách, đi mua sắm quần là áo lụa, lên Facebook post hình, tâm sự loài chim biển ..v..v, mấy cái đó vui lắm. Nhưng những cái đó toàn là bất thiện. Trong khi đó nhân lành thì mình lại ngán. Có một điều quái gỡ đó là : Gieo nhân thì thích nhân ác, ghét nhân thiện, còn lúc hưởng quả thì khoái quả thiện mà sợ quả ác. Thì quí vị tưởng tượng thế giới này là thế giới nghịch lý thì làm sao mà nó không phải là biển khổ được .
Sư Giác Nguyên

Ái làm duyên cho kiến thủ

 


ÁI LÀM DUYÊN CHO KIẾN THỦ

Như đã nói, Kiến Thủ là tất cả những Tà Kiến nào ngoài ra Giới Cấm Thủ và Ngã Chấp Thủ. Còn tham ái ở trường hợp này cũng là sự thích thú trong các cảnh, hoặc Nội Phần hoặc Ngoại Phần. Cảnh Nội Phần là những gì thuộc về bản thân, không liên hệ gì với chính mình bất luận là chúng sanh hay vật vô tri. Sau đây là trường hợp điển hình cho vấn đề Ái trợ sanh cho Kiến Thủ :
Xưa kia, tại kinh thành Mithilā xứ Videha có một nhà vua tên là Aṅgati, vị nguyên soái của vua tên là Alāta. Một hôm, nguyên soái Alāta đưa vua đến gặp sư phụ của mình là du sĩ lõa thể Guṇa. Vua hỏi du sĩ này là làm thế nào để được sanh về thiên giới. Du sĩ Guṇa trả lời rằng cần gì phải bận tâm đến điều đó bởi tất cả những gì mà người ta vẫn gọi là thiện nghiệp hay ác nghiệp chẳng qua chỉ là những hư ngữ nói để nói mà thôi, dù làm lành hay làm ác gì thì cũng chẳng có quả dị thục. Bất luận là kẻ ngu hay người trí, sau 84 ngàn Đại Kiếp sanh tử luân hồi rồi thì tự nhiên mọi người sẽ được thanh tịnh và Níp-bàn như nhau сả.
Khi nghe tới đây, nguyên soái Alāta liền gật đầu đồng ý và bảo rằng, du sĩ Guṇa đã nói rất đúng bởi theo nguyên soái nhớ lại được thì kiếp trước đó ông đã là một đồ tổ chuyên giết trâu bò, thế mà trong hiện tại chẳng những không bị sa đọa mà còn được sanh làm một vị nguyên soái quyền uy tột bực. Trong Kinh giải thích rừng nguyên soái Alāta là người có trí nhớ được kiếp trước nhưng không nhớ nhiều, ông chỉ nhớ được một kiếp thay vì nếu nhớ nhiều hơn thì ông sẽ biết rằng cách đó hai kiếp sống, dưới thời giáo pháp đức Phật Ca-Diếp ông đã cúng dường tháp thờ xá-lợi nên kiếp này được làm nguyên soái, còn ác nghiệp giết bò trong kiếp trước đây thì chưa trò quả kịp. Thế là ông yên chí rằng làm thiện làm ác gì cũng không có quả báo dị thục.
Lúc đó một anh nô lệ ngồi bên cạnh nghe nguyên soái nói thế bèn bật khóc và bảo rằng ông được may mắn như vậy, chớ tôi còn cay đắng hơn nhiều, kiếp trước tôi là một nhà triệu phú giàu có, suốt đời gìn giữ giới hạnh thế mà bây giờ phải đem thân đi làm nô lệ cho người khác. Tôi đã nỗ lực sống thiện để làm gì chứ, tất cả chỉ là viễn vông vô ích thôi, nghĩ tới đó tôi không thể cầm được nước mắt.
Trong Kinh ghi rằng anh nô lệ này cũng chỉ nhớ được một kiếp như nguyên soái Alāta, nên anh ta đâu biết rằng cách đó mấy kiếp dưới thời kỳ đức Phật Ca-Diếp anh ta đã sanh làm một người chăn bò. Rồi ngày nọ, bầy bò của anh ta đi lạc trong rừng, anh ta đi vào đó tìm. Lúc ấy có một vị tỳ-kheo cũng bị lạc đường, thấy có người, vị tỳ-kheo liền tới hỏi. Anh ta chẳng thèm trả lời. Vị tỳ-kheo năn nỉ mãi, anh ta bực mình buông lời gắt gỏng: “Người gì mà tới đường xá cũng không biết, ngữ này thì có nước đi làm đầy tớ cho người ta chớ làm gì được”.
Trong kiếp làm triệu phú, anh ta đã giữ giới trong sạch nhưng thiện nghiệp đó chưa kịp chín muồi thì quả xấu của câu nói bất kính kia đã trổ quả trước nên kiếp này anh ta phải làm nô lệ. Vì không nhớ được mấy kiếp trước đó, anh nô lệ mới nghĩ rằng du sĩ lõa thể Guṇa nói đúng.
Nghe xong câu chuyện của mọi người, vua Aṅgati càng tin chắc rằng hành động thiện ác không có quả báo. Sau khi về cung, ông không tiếp tục cứu tế chẩn bần như trước nữa mà đêm ngày chỉ biết ăn chơi sa đọa. Công chúa của vua là người hiền trí cũng không thể nhắc nhở được. Cuối cùng phải đích thân Bồ-tát, lúc đó là Phạm Thiên, xuống cảnh tỉnh cho vua, vua mới chịu bỏ Tà Kiến ấy.
Qua câu chuyện trên đây, nếu xét cho cùng, ta sẽ thấy rằng Tà Kiến của các nhân vật trong đó đều bắt nguồn từ sự khao khát dục lạc, lấy sự sung sướng làm tâm điểm cho nhận thức về vấn đề nghiệp báo. Đó là Ái trợ sanh cho Kiến Thủ vậy.
Tác phẩm: Tìm Hiểu Triết Học Phật Giáo
Dịch Giả : Tỳ Kheo Giác Nguyên