Thứ Ba, 30 tháng 11, 2021

Công đức tùy thuộc và ba điều kiện



MỘT CÔNG ĐỨC LỚN TUỲ THUỘC VÀO BA ĐIỀU KIỆN GÌ ?

Một công đức lớn tùy thuộc vào ba điều kiện :
Đối tượng, tâm tư thí chủ, vật thí.
-Đối tượng : Người mình cúng là ai, đức độ nhiều hay không có đức độ.
-Tâm tư thí chủ : Các vị gặp Phật mà các vị cúng cái kiểu thấy Ngài hiền đẹp, trưa nắng chang chang ôm bát đi xin thấy tội nghiệp thì phước nó nhỏ. Còn mình hiểu đây là bậc Chánh Đẳng Giác, cha của chư thiên và nhân loại, là thầy của ba cõi, là chỗ nương tựa đời này và kiếp khác cho vô lượng chúng sanh, có đầy đủ tất cả các đức lành. Khi hiểu về Thế Tôn hơi khá khá như vậy thì công đức chẳng thể nghĩ bàn. Cho nên tâm tư thí chủ quan trọng.
-Vật thí : Trong kinh ghi rõ bố thí có đúng lúc hay không, vật thí đó có hợp đạo hay không, và tác dụng của vật thí đó mình nhắm tới là cái gì. Thí dụ mình làm đường, đào giếng xây cầu thì phước nó khác, bởi vì tác dụng dài lâu, còn mình chỉ đãi một bữa ăn cho bà con thì nó khác một chút, mặc dù cái nào cũng là bố thí. Nhưng một cái mình nhắm đến lợi ích lâu dài tác dụng bền lâu nó khác với chuyện mình làm một bữa cho xong.
Sư Giác Nguyên

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021

Chiêm bao

 


CHIÊM BAO

Các nhà chú giải đã chỉ ra rằng có bốn nguyên nhân của việc có các mộng cảnh:
1. Năng lực tố chất hư hoại: bởi do sự rối loạn của các tố chất.
2. Quá khứ trải nghiệm: bởi do những trải nghiệm trong quá khứ
3. Năng lực chư thiên kích thích: bởi do năng lực của chư thiên.
4. Trẫm triệu: bởi do những điềm báo trước.
~ = ~
1. Mộng cảnh bởi do sự rối loạn của các tố chất:
Nằm mơ do sự rối loạn của các tố chất thì có nhiều loại ác mộng:
- Mơ thấy như đang rớt từ đỉnh xuống đến chân của một đồi cao
- Mơ đang bay trong hư không với sự kinh hãi.
- Mơ đang bị các động vật thú hoang như voi, ngựa, sư tử, báo, cọp, hoặc bọn cướp truy đuổi
- Mơ yêu tinh hoặc quỷ dữ kéo lôi hoặc đang trèo lên chúng và đang đè chúng xuống, hoặc bị chúng bóp cổ. Thấy mình la hét để cho một ai đó đến giúp, nhưng không thể làm được.
Đôi khi, người mơ đã la hét bởi vì nỗi kinh hãi khủng khiếp, dẫn tới kết quả gây ra nhiều tiếng la hét khủng khiếp. Chỉ khi nào được người ở gần bên lay động đánh thức dậy, họ mới cảm thấy được nhẹ nhõm.
Một số người nói rằng họ đã đang bị ma quỷ ám ảnh. Thật sự điều này xảy ra do sự rối loạn của các tố chất. Sự rối loạn này là do thọ thực hoặc thuốc men không thích hợp với những cơ thể của họ. Đôi khi sự rối loạn của các tố chất xuất hiện do đang nằm ngủ trên một chiếc giường không thoải mái.
Những ai mà thường có mộng cảnh do sự rối loạn các tố chất thì không nên dùng thực phẩm khó tiêu, không nên dùng các dược phẩm mạnh trước khi đi ngủ và không nên ngủ trên những chiếc giường không được thoải mái và không được sạch sẽ.
Những mộng cảnh do sự rối loạn của các tố chất sẽ không trở thành hiện thực như đã mơ thấy.
2. Mộng cảnh bởi do sự trải nghiệm trong quá khứ:
Người từng có được sự trải nghiệm của việc nhìn thấy những cảnh sắc xinh đẹp hoặc thô thiển, thỏa thích hoặc bất như ý; nghe thấy những cảnh thinh thỏa thích hoặc bất mãn; có trải nghiệm các loại khẩu vị khác nhau về thực phẩm thì có thể mơ thấy về những trải nghiệm trong quá khứ của họ.
Những người thường thuyết giảng hay hướng dẫn giáo pháp có thể mơ thấy họ đang ban bố những pháp thoại hay đang hướng dẫn người khác. Các vị trưởng lão thường chỉ dạy các môn sinh của mình thì cũng mơ thấy rằng đang chỉ dạy các môn sinh. Những ai có thói quen thính pháp thì cũng mơ thấy đang thính pháp. Các mộng cảnh này là hệ quả do những trải nghiệm quá khứ.
Người có thói quen kính ngưỡng những ngôi chùa linh thiêng thì phần lớn thường hay mơ thấy rằng họ đang chiêm bái những ngôi chùa linh thiêng này.
Các nhân viên văn phòng có thể mơ thấy đang làm việc trong văn phòng của mình. Các giáo viên cũng có thể mơ thấy đang dạy học Các thương nhân và những thợ kim hoàn có thể mơ thấy họ đang mua bán những hàng hóa và các đồ kim hoàn.
Thợ săn và những ngư phủ có thể mơ thấy về việc đang săn bắn hoặc đang đánh cá.
Trộm cướp cũng có thể mơ thấy đang cướp đoạt và thâu đạo. Những ai mà có thói quen phạm tội thông gian thì có thể mơ thấy đang phạm tội thông gian. Những ai mà đang sinh nhai bằng việc mua gian bán, tạo ra hàng hóa giả thì cũng sẽ mơ thấy đang gian lận. Những ai nghiện ngập rượu hay các chất gây nghiện có thể mơ thấy đang uống rượu hoặc sử dụng các chất gây nghiện.
Các mộng cảnh này hệ quả do bởi những trải nghiệm trong quá khứ, là sự nhớ lại những trải nghiệm trước đó. Các mộng cảnh này chắc chắn sẽ không trở thành hiện thực.
3. Các mộng cảnh bởi do năng lực của Chư Thiên
Khi quan tâm đến phúc lợi của nhân loại và muốn cho họ được hưởng quả phúc lợi tốt đẹp, thì Chư thiên sử dụng năng lượng của mình để làm người ta mơ thấy các cảnh trần rất đa dạng.
Chư Thiên khi muốn tạo ra sự bất tiện đến những ai mà họ căm ghét, mong muốn cho họ phải thọ khổ đau, thì sử dụng năng lực của mình để làm cho họ mơ thấy rất nhiều kiểu loại của các cảnh trần.
Với tính cách như thế, nếu Chư Thiên thương yêu và mong ước để ban những phúc lợi cho nhân loại thì Chư Thiên chuyển chúng đến trong những mộng cảnh của họ. Và bằng cách làm theo khi được chỉ dẫn, thì người ta hưởng quả phúc lợi một cách tương ứng.
Đối với những ai hủy hoại những cây cối hoặc cung điện của họ, họ sẽ cho các mộng cảnh xấu xa bởi do sự tức giận của họ, và các mộng cảnh nầy sẽ mang lại những hệ quả xấu xa.
Các mộng cảnh bởi do năng lực của Chư Thiên thì có thể hoặc không có thể trở thành hiện thực.
4. Các mộng cảnh bởi do điềm báo trước (trẫm triệu)
Do năng lực của Thiện Nghiệp Lực, những quả phúc lợi mà sẽ đạt được hoặc do năng lực của Bất Thiện Nghiệp Lực, những hệ quả xấu xa, thì có thể mơ thấy như điềm báo trước (trẫm triệu), và chúng sẽ trở thành hiện thực.
Đó là lý do tại sao, các mộng cảnh ấy là những điềm báo trước sẽ mang lại những hệ quả tốt đẹp hoặc xấu xa, tùy thuộc vào Nghiệp Lực.
Những thể loại của các mộng cảnh này một cách chắc chắn sẽ trở thành hiện thực, nhằm để cho những hệ quả tốt đẹp do bởi Thiện Nghiệp Lực và những hệ quả xấu xa do bởi Bất Thiện Nghiệp Lực sẽ diễn ra.
Xem thêm những điềm đại mộng của Bồ Tát Gotama. Những mộng cảnh trọng đại ấy bởi do Bậc Giác Hữu Tình (Bồ Tát) thì không thể nào được mơ thấy do bởi hàng nhân loại được. Những mộng cảnh này chỉ có thể được mơ thấy duy nhất do bởi các bậc đã cận kề việc thành đạt sự giác ngộ như hàng Chư Phật.
Các mộng cảnh bởi do những điềm báo trước thì một cách chắc chắn sẽ trở thành hiện thực.
Các bậc Vô Sinh (A La Hán) không có các mộng cảnh và có thể ngủ một cách bình an. Bậc Thất Lai (Tu Đà Hườn), Bậc Nhất Lai (Tư Đà Hàm), và Bậc Bất Lai (A Na Hàm) hiếm khi họ có các mộng cảnh. Phàm Phu là những người đã chưa diệt tận điên đảo kiến phần lớn sẽ có rất nhiều các loại mộng cảnh.
(Lược trích từ Tri thức về các mộng cảnh)

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

Tứ Diệu Đế ***

 


TỨ DIỆU ĐẾ

Thứ nhất niệm Phật không đúng cách là điều đáng tiếc. Thứ hai cho dầu niệm Phật đúng cách thì pháp môn niệm Phật không thể thay thế pháp môn Tứ Niệm Xứ. Bởi vì pháp môn niệm Phật nó hơi máy móc, nó chỉ đem lại cho mình niềm tin nhất thời, chứ còn để thấu suốt bản chất của cuộc đời, của bản thân mình thì pháp môn niệm Phật không phải là cách tốt nhất.
Có một chuyện mà phải nhắc nhở ở đây là tôi đã nhắc không dưới mười ngàn lần đó là : Người Phật tử không thể nào mơ hồ giáo lý Tứ Diệu Đế, bởi vì đó chính là giáo lý căn bản của Phật pháp mà cũng là nguyên tắc căn bản của vũ trụ.
Tứ Diệu Đế Là Gì ?
Tứ Diệu Đế là 4 sự thật .
-Sự thật thứ nhất là mọi thứ trên đời này đều là khổ.
-Sự thật thứ hai chính vì mọi thứ đều là khổ, nên những gì ta thích đều là thích trong khổ.
-Sự thật thứ ba muốn hết khổ thì đừng tiếp tục thích trong khổ nữa. Thích khổ thì ta sẽ đầu tư cái khổ mới. Thích cõi dục thì trở về với cõi dục. Mê thiền định thì sẽ trở về cõi Phạm Thiên. Sống hết tuổi thọ rồi thì cũng trở về cái chỗ thấp nhất. Sự vắng mặt của niềm đam mê ưa thích đó là Niết-bàn.
-Sự thật thứ tư là muốn không đam mê nữa, lìa bỏ đam mê thì ta phải hành trì đúng cách thì mới buông được .
Buông có hai cách :
-Buông chỉ vì không cần nữa, đơn giản vậy thôi.
-Buông là vì mình biết rõ tại sao mình buông.
Hành trì đúng cách đó là hành trì theo tinh thần Bát Chánh Đạo. Mà rốt ráo ngắn gọn dễ nhớ nhất chính là tinh thần của Chánh Niệm. Để luôn luôn biết rằng cái gọi là “Tôi“ chỉ là sự lắp ráp về vật chất của đất, nước, gió, lửa.
Còn về tinh thần nó là chỗ lắp ráp gặp gỡ hội tụ của Thiện, Ác, Buồn, Vui. Chỉ vậy thôi không có gì nhiều hơn nữa.
Mong là các vị làm thử, tôi không dám mong là các vị tin tôi. Tôi không phải là thiền sư, càng không phải là hành giả, tôi là người sợ chết, chết nhát, tôi là người rất dễ bị tổn thương, có nhiều mặc cảm tự ti, và chính pháp môn Tứ Niệm Xứ giúp tôi tháo gỡ tất cả những thứ đó.
Không đi tìm cái ngọt, cái béo, cái thơm, mà cũng không trốn chạy cái đắng, cái chua, cái chát, thanh thản đi giữa cuộc đời này, nó làm sao thì nhận như vậy. Như người Mỹ họ nói : “Kẻ giàu nhất không phải là người muốn gì có nấy, mà chính là người có thể sống được với mọi hoàn cảnh“.
Sư Toại Khanh
( Chép lại bài giảng của Sư )

Thứ Ba, 28 tháng 9, 2021

Thánh tăng Ajahn Chah chia sẻ cách Ngài tu tập! ***

 


Thánh tăng Ajahn Chah chia sẻ cách Ngài tu tập!

☘️🌸🧘
....
Vậy đó, tôi kể vài chuyện ngắn gọn về cách tôi đã tu. Tôi không có nhiều trí thức. Ngày xưa tôi cũng không được học hành gì nhiều. Giờ cái tôi học là trái tim này và tâm này của tôi, và tôi học theo một cách tự nhiên thông qua thực nghiệm, thông qua rút kinh nghiệm từ những chỗ tu đúng, tu sai. Khi tôi thấy thích điều gì, tôi xem xét coi điều gì đang xảy ra và nó sẽ dẫn đến đâu. Rõ ràng tôi thấy nó lôi tôi đi xa đến chỗ khổ đau. Việc tu của tôi là quan sát chính bản thân mình. Khi sự hiểu biết và sự nhìn thấy rõ ràng (minh sát) càng được sâu sắc hơn, tôi càng đi đến biết rõ về chính mình hơn.
Tu với một sự tận tâm bất thối chuyển! Nếu muốn tu tập Giáo Pháp, thì các thầy phải bỏ bớt nghĩ suy. Nếu khi thiền tập các thầy thấy mình đang cố tu để đắc đạt kết quả gì gì đó, thì tốt hơn nên dừng lại. Mỗi khi nào tâm được tĩnh lặng và bình an, ta liền độc thoại: "Nó đó! Phải đó là vậy không? Ta đạt đến tầng thiền rồi phải không?”, nếu nghĩ vậy thì dừng ngay. (Bạn đang tu với vọng tưởng và tham dục). Quơ hết mọi ý nghĩ phân tích và suy lý đó, gói nó lại và nhét xuống ngực. Đừng bao giờ lôi nó ra để lý sự, suy lý gì gì nữa. Đó không phải là loại hiểu biết dùng để thâm nhập vào trong tâm. Đó là những loại hiểu biết khác, đó là những hiểu biết trí thức, suy lý, bề ngoài.
Khi hiện thực của điều gì được nhìn thấy, nó không phải giống như đã được mô tả trong kinh sách. Ví dụ, khi ta viết về "tham”, tham dục, nhục dục, dục vọng khoái lạc giác quan, thì những chữ viết đó không thể nào chuyển tải hết ý nghĩa của thực tại của tính tham đó trong tâm. Chữ "sân” cũng vậy, đó chỉ là danh từ chung ta viết để cố miêu tả những thói tâm ô nhiễm nặng đô thứ hai bên trong tâm thôi. Chữ sân ta viết trên bảng đen, nhưng thực sự chúng ta trải nghiệm sân ra sao thì không thể giống y như nhau. Chúng ta thậm chí không kịp đọc những chữ viết đó khi tâm đang sân giận, điên tiếc.
Chỗ này là chỗ cực kỳ quan trọng. Những giáo lý là đúng, nhưng điều cốt lõi là phải biết đưa giáo lý đó vào trong tim mình. Nó phải được nội tâm hóa. Nếu Giáo Pháp không được đưa vào trái tim thì nó sẽ không được biết một cách thực thụ. Nó sẽ không được thấy một cách thực thụ. Tôi cũng vậy. Tôi không học rộng về kinh điển, nhưng tôi chỉ học đủ căn bản để thi qua kỳ thi sát hạch giáo lý Phật giáo. Một ngày kia tôi có duyên được nghe bài giảng pháp từ một thiền sư. Khi tôi nghe, một vài ý nghĩ thiếu tôn trọng đã khởi lên. Lúc đó tôi chưa biết cách lắng nghe Giáo Pháp. Tôi chẳng hiểu vị thiền sư lang thang đó đang nói gì. Ông ta đang nói như thể giáo lý đó có từ kinh nghiệm trực tiếp của ông ta vậy, cứ như ông ta là đại diện cho sự thật vậy. Bởi vậy nên tôi không hoàn toàn tin.
Thời gian trôi qua, tôi đạt được ít nhiều trải nghiệm ban đầu, tôi đã tự mình nhìn thấy sự thật cho chính mình, đó là những sự thật mà vị thiền sư kia đã nói trước đó. Tôi hiểu được cách hiểu biết. Sau hiểu biết thì trí tuệ theo sau ngay tại đó. Giáo Pháp đã bén rễ từ trong tâm và trái tim của tôi. Thật lâu, rất lâu sau đó tôi mới nhận thấy được những điều vị thiền sư đó đã nói là nói từ sự tự thân thấy biết của mình. Giáo Pháp vị ấy đã giảng là đúng trực tiếp từ sự trải nghiệm của chính vị ấy, không phải từ kinh sách. Vị ấy nói theo sự hiểu biết và trí tuệ nhìn thấy của chính mình. Khi tôi tự mình bước đi trên con đường Đạo, tôi đã gặp lại mọi điều mà vị thiền sư đó đã mô tả trước đó, và tôi phải thừa nhận rằng vị ấy đã nói đúng. Vậy đó, tôi tiếp tục tu và khám phá như vậy.
Hãy cố gắng tranh thủ mọi cơ hội để đưa nỗ lực vào sự tu tập. Dù tu có được bình an hay không, đừng nghĩ gì lúc này. Ưu tiên hàng đầu là phải nỗ lực tu hành, phải chuyển động bánh xe tu tập và tạo ra những nhân cho kết quả giải thoát sau này. Nếu bạn làm đúng việc tu tập, bạn không cần phải lo lắng về kết quả. Đừng lo lắng tại sao ta vẫn chưa chứng đắc kết quả này nọ. Lo lắng là bất an, là không bình an. Thử nghĩ, nếu bạn không lo tu tập đúng đắn thì lấy gì mà trông đợi kết quả? Chỉ có người biết tu biết khám phá thì mới có thể tìm thấy kết quả. Chỉ có người tự ăn mới tự mình biết no. Mọi thứ xung quanh đều đánh lừa chúng ta. Đúng không, nhận biết lẽ thật này cho đến mười lần cũng không thừa. Mọi thứ xung quanh đều đánh lừa chúng ta. Cũng một ‘sư cụ’ đó cứ đánh lừa và giả dối với ta hoài hoài. Nếu chúng ta biết ổng đang nói dối, điều đó không tệ, nhưng cũng có thể phải rất lâu sau đó ta mới nhận ra ổng nói dối. Cũng một ông bạn cũ cứ đánh lừa ta hoài từ trước đến giờ. Mọi thứ xung quanh ta nhìn thấy hàng ngày cứ luôn đánh lừa ta.
Tu tập theo Giáo Pháp có nghĩa là củng cố đức hạnh (giới), phát triển định lực (định) và tu dưỡng trí tuệ (tuệ) trong tâm ta. Tưởng niệm và quán chiếu về Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Buông bỏ tất cả mọi thứ, không ngoại lệ thứ gì. Những hành động của chúng ta là nguyên nhân và điều kiện [nhân và duyên] sẽ kết thành trái quả ngay trong kiếp sống này. Do vậy, hãy nỗ lực tu với sự thành tâm.
Ngay cả khi ngồi trên ghế chúng ta vẫn có thể tập trung sự chú tâm. Ngay lúc mới tu, chúng ta không cần phải chú tâm đến nhiều thứ– chỉ cần chú tâm vào hơi thở. Nếu chúng ta thích, chúng ta có thể niệm chữ "Buddha” [Đức Phật], hay "Dhamma” [Giáo Pháp], hay "Sangha” [Tăng đoàn] theo nhịp hơi thở theo ý chúng ta. Khi tập trung chú tâm, nhất quyết đừng kiểm soát hơi thở. Cứ để hởi thở tự nó thở tự nhiên. Nếu hơi thở có vẻ chậm mệt hay khó chịu thì đó là do ta đang tiếp cận nó không đúng cách. Khi nào chúng ta còn chưa thấy thoải mái dễ chịu với hơi thở, nó cứ luôn lúc quá ngắn, lúc quá dài, hoặc lúc sâu lúc cạn, lúc nhẹ lúc nặng. Tuy nhiên, khi ta chúng ta thư giãn với hơi thở, chúng ta sẽ thấy dễ chịu và thoải mái, dễ ý thức rõ từng hơi thở vào và hơi thở ra, thì lúc đó chúng ta đã theo được hơi thở. Nếu chúng ta không làm đúng, chúng ta sẽ lạc mất hơi thở. Nếu điều đó xảy ra, tốt hơn nên ngừng lại chốc lát, và tập trung sự chú tâm trở lại.
Nếu trong khi thiền các thầy tự nhiên trải nghiệm những hiện tượng thần thông siêu thường, hoặc thấy tâm bừng sáng và phát sáng, hoặc thấy hình ảnh nơi thiên cung cõi trời, vân vân, lúc đó không cần phải sửng sốt hay sợ hãi gì hết. Cứ đơn thuần tỉnh giác biết những gì mình đang trải nghiệm, và cứ tiếp tục thiền. Nhiều lúc, hơi thở có thể như chậm lại hoặc như ngừng thở luôn. Có cảm nhận rằng hơi thở dường như biến mất và người tu có thể sửng sờ hay sợ hãi về điều đó. Các thầy có thể chỉ nghĩ rằng hơi thở đã ngừng thở. Thực ra hơi thở vẫn còn đó, nhưng nó hoạt động ở một mức độ vi tế nhẹ tênh hơn lúc bình thường. Cứ từ từ rồi hơi thở sẽ tự nó trở lại như bình thường.
Ngay từ đầu, chỉ cần tập trung vào việc làm cho tâm được tĩnh lặng và bình an. Dù đang ngồi trên ghế, đang lái xe, đang ngồi trên thuyền, hoặc đang làm gì đó, lúc nào rảnh tay ngồi yên thì các thầy nên biết cách thiền ngay. Khi bước lên tàu lửa vừa ngồi xuống, hãy tranh thủ đưa tâm vào trạng thái bình lặng. Dù đang ở đâu, các thầy vẫn có thể tranh thủ ngồi thiền. Khi đã đạt đến thói quen và mức độ thiền tập như vậy, thì coi như các thầy đã quen thuộc với con đường Đạo.
Rồi sau đó bắt đầu tập điều tra, suy xét. Vận dụng năng lực của cái tâm đang được bình an đó để điều tra tìm hiểu cái mình đang trải nghiệm. Có lúc, đó là cái bạn nhìn thấy; có lúc đó là cái bạn nghe thấy, hoặc ngửi thấy, hoặc nếm thấy, hoặc cảm thấy bằng thân (chạm thấy), hoặc nghĩ hay cảm thấy trong tâm. Bất cứ trải nghiệm giác quan nào có mặt—dù ta thích hay không thích—cứ lấy nó để quán xét. Cứ đơn thuần tìm hiểu và biết cái mình đang trải nghiệm. Đừng phóng tác ý nghĩa hay chủ quan diễn dịch về những đối tượng giác quan đó—những đối tượng giác quan đó là để chúng ta quán xét và biết về nó, chứ không phải để chúng ta suy diễn hay phản ứng này nọ theo nó. Nếu cái đó tốt, chỉ cần biết nó tốt. Nếu cái đó là xấu, chỉ cần biết là nó xấu. Đó chỉ là thực tại quy ước, thực tại của sự sống thế gian. Dù tốt hay xấu, tất cả chỉ là vô thường, bất toại nguyện và vô ngã. Tất cả đều tùy thuộc phát sinh và giả tạm, duyên sinh và có rồi mất. Chẳng có thứ gì trong đó đáng để ta nắm giữ hay dính theo nó. Nếu các thầy duy trì cách tu tập với sự bình an và quán xét như vậy, trí tuệ hiểu biết sẽ tự động khởi sinh lên thôi. Tất cả mọi thứ được cảm nhận và trải nghiệm qua các giác quan đều rớt vào ba cái lổ sâu là vô thường, bất toại nguyện và vô ngã. Tất cả không ngoài ba dặc tính bao trùm đó của mọi sự sống. Ngay chỗ này chính là thiền minh sát (vipassanā). Tâm đã được bình an, và hễ khi có trạng thái ô nhiễm nào nổi lên trong tâm, thì ta giục nó vào ba cái lổ rác đó, (giống như người ở trên nhà cao tầng quăng bịch rác vào ống đỏ rác để nó rớt xuống thùng rác dưới đất để người ta chở đi bỏ vĩnh viễn). Khi có trải nghiệm nào hay nhận thức (niệm, vọng tưởng) nào khởi lên, dẹp bỏ nó ngay, bởi nó chắc chắn là vô thường, khổ, và chẳng là gì cả. Đây là chỗ cốt lõi của thiền minh sát (#vipassanā): giục bỏ, dẹp bỏ tất cả mọi thứ vào ba lổ rác “vô thường, bất toại nguyện (khổ), và vô ngã”. Tốt, sướng, xấu, kinh khủng, ghê tởm, hay bất cứ là gì, giục bỏ hết xuống hố rác. Không bao lâu sau đó, sự hiểu biết và trí tuệ minh sát sẽ nổi lên ngay chính giữa đồng rác bao trùm của của ba đặc tính đó—đó là trí tuệ mới hé lên, như ánh sáng hừng đông mới hé sáng mờ mờ ở nơi chân trời xa. Ở giai đoạn ban đầu này, trí tuệ vẫn còn yếu và mới hé, nhưng chính lúc này các thầy phải duy trì sự tu tập một cách đều đặn, kiên định. Chỗ này thực tế, nhưng khó diễn đạt bằng lời; nhưng ví dụ thì rất dễ: cũng giống như có người muốn biết nhiều về tôi, thì người đó đến đây ở đều đặn và thường xuyên, rồi dần dần sẽ biết rõ về tôi. Cứ tu và duy trì trạng thái hé mở trí tuệ đó, dần dần trí tuệ siêu việt hơn sẽ tự khởi sinh và sáng bừng hơn trong tâm bạn. Lý tu chỗ này là vậy. Sự đều đặn và kiên định.
#AJAHNCHAH
☸ Pháp âm nguyên thủy - Phật Pháp Tăng.

Thứ Hai, 27 tháng 9, 2021

Khi nào thì có một nghiệp sát sanh?

 


KHI NÀO THÌ CÓ MỘT NGHIỆP SÁT SANH?

Có năm điều làm cho một việc sát sanh được thành tựu là:
(1) Chúng sanh đang có sự sống.
(2) Biết chúng sanh đang có sự sống.
(3) Có tác ý muốn làm ngưng sự sống của một chúng sanh.
(4) Cố quyết đoạt mạng sống của một chúng sanh.
(5) Mạng sống của chúng sanh bị đoạn lìa
Nói sát sanh là nghiệp về Thân nhưng bên trong đã có Ý nghiệp.
Nếu có tác ý muốn sát sanh, nhưng không hành động sát sanh, thì tạo Y nghiệp. Đó là ác nghiệp về Ý, và sẽ đón nhận quả khổ đau, là tâm bắt an, lo lắng, tán loạn, chao động không an trú. Cũng nên ghi nhớ rằng, có ý vui theo, hay tán thành một việc sát sanh là đồng tạo một Ý ác nghiệp.
Nếu không có tác ý sát sanh nhưng thiếu tỉnh giác và chánh niệm, đã làm thương tổn đến chúng sanh, tạo Nghiệp Bất Thiện về Thân. Do đó có quả không an vui về Thân. Cần nên ghi nhớ rằng nhìn thấy và có hành động vui theo, hay lời nói tán thành việc sát sanh là đồng tạo Thân ác nghiệp.
Sát sanh là do bởi tâm sân hận (Ý bất thiện) mà tạo thành. Thực hành rải tâm từ để đối trị tâm sân hận.
#SưSánNhiên

Tư trong việc từ thiện ***



 TÂM TƯ

Khi thực hành hay trau dồi việc thiện, luôn nhớ đến sự suy nghĩ, tư duy và tác ý trong ba giai đoạn: trước khi làm (Tư Tiền), trong khi đang làm (Tư Hiện), và sau khi làm xong (Tư Hậu). Nếu có sự tư duy chân chính trong cả ba giai đoạn và có Trí trong việc làm Thiện, thì hưởng được quả phước trọn vẹn, viên mãn.

TƯ TIỀN:
Là sự tư duy hay khéo tác ý khi-chuẩn-bị vào một việc thiện. Tư Tiền là việc đầu tiên phải có, vì nếu có sự tư duy chín chắn, hiểu rõ tại sao thực hiện việc thiện này, và sự lợi ích của việc thiện này như thế nào, thì việc thiện được chuẩn bị rất chu đáo với tâm thành hoan hỷ. Do đó không bị sai lệch khi chúng ta bắt tay vào thực hiện việc thiện. Sự hoan hỷ, an lạc, nhiệt tâm, và sáng suốt này là nguyên nhân tạo ra quả phước hoàn mãn cho sự khởi hành.
Trong cuộc sống hằng ngày cũng vậy, mỗi khi làm một việc gì chúng ta cũng phải suy nghĩ về công việc mình sẽ làm, làm như thế nào, làm với tác ý gì, tại sao phải làm, và làm thì sẽ đem lại kết quả ra sao. Một khi đã tư duy và hiểu rõ tận tưởng những câu hỏi trên, sự chuẩn bị sẽ tốt hơn, và như thế việc làm và kết quả được mỹ mãn hơn.
TƯ HIỆN
Là sự tư duy, suy nghĩ, và tác ý trong việc thiện đang-trong-lúc thực hiện việc thiện. Tác ý thiện, hoan hỷ, và nghĩ đến sự lợi lạc và quả Phước do thực hiện việc thiện này.
Tư Hiện là một đức tin, tịnh tín trong sạch đang khi làm việc thiện, làm việc thiện không để tham cầu danh và lợi. Mượn cảnh để làm việc thiện, vun bồi phước báu ngõ hầu giải thoát, niết-bàn.
TƯ HẬU
Là sự tư duy, suy nghĩ, hay tác ý sau-khi-hoàn-tất một việc thiện. Tư Hậu là sau mỗi việc thiện đã làm, vẫn tiếp tục hoan hỷ, vui vẻ, không hối tiếc, không sân hận, hay khó chịu, cho dù với kết quả không được như ý. Nên giữ tâm thiện xuyên suốt từ lúc phát tâm (Tư Tiền) làm việc thiện, đến khi thực hiện việc thiện (Tư Hiện), và sau khi hoàn tất việc thiện (Tư Hậu).
Nếu không giữ được xuyên suốt tâm ý thiện trong ba giai đoạn Tư Tiền Tư Hiện Tư Hậu thì Phước báu không được tròn đầy. Nếu sự hối tiếc, sân hận do thực hiện việc thiện kéo dài thì quả phước không có, mà còn tạo thêm nghiệp bất thiện. Như thế hóa ra làm việc thiện mà tạo Nghiệp báo, thay vì Phước báu.
Cho nên hãy ghi nhớ, cho dù việc thiện có thành tựu, hay không được thành tựu mỹ mãn, nên luôn ghi nhớ giữ gìn tâm ý cho được tịnh hảo. Quan trọng hơn nữa là biết quán xét Tam tướng về vô thường, khổ, vô ngã của một việc thiện hay của tất cả các pháp.
VÍ DỤ VỀ TƯ TIỀN: Có một nhóm đạo hữu đang giúp cho những nạn nhân lũ lụt ở Việt Nam, họ kêu gọi sự đóng góp của bạn. Bạn không có sự dự tính trước về việc làm này, nó xảy ra một cách đột ngột, và như vậy thì làm sao để bạn có được quả phước Tư Tiền? Một cách khéo tác ý trong trường hợp này là trước khi nhận lời làm việc thiện để giúp lũ lụt, bạn hoan hỷ tán thán việc thiện đang được thực hiện và nói rằng: “Thật là phước báu đầy đủ cho các việc mà anh chị đã làm, xin cho được chia vui và quả phước báu này với các anh chị” Hay chỉ nói ngắn gọn là "Amumodana!". Phải hết sức thành tâm, thành ý và chân thật hoan hỷ với việc làm thiện ấy. Khi suy nghĩ và “Anumodanā Phước Báu Đầy Đủ, Tùy Hỷ Công Đức” như vậy là bạn đã tạo được Phước Tư Tiền. Cũng do vậy, bạn đã được một thiện nghiệp về Ý và một thiện nghiệp về Khẩu. Thêm vào đó bạn chia sẻ niềm vui và tạo thêm tinh thần, khích lệ cho các việc thiện được phát sinh và tăng trưởng. Ngay đó, bạn đã thực hiện một Tứ chánh cần (việc thiện đã làm, thì làm cho phát triển). Do đó qua việc tán thán “Anumodanā" với việc làm thiện của người và mình, bạn đã được phát sinh nhiều phước báu.
Vấn đề này hoàn toàn đơn giản đối với những người thường làm việc xả thí, dễ cho ra, và sẵn lòng giúp đỡ người gặp nạn, nhưng không phải dễ đối với người không muốn cho ra, không thường quen xả thí. Trong trường hợp này, nên tư duy và hiểu rằng: việc cho ra, xả thí là một việc làm thiện để đối trị tánh tham lam, bỏn xẻn; làm việc thiện này để tạo phước báu, và giúp đỡ người gặp nạn. Do đó người ấy chịu thay đổi bản tính, thói quen, và đóng góp giúp đỡ những nạn nhân bị lũ lụt. Như thế, tâm người ấy được thay đổi từ bất thiện sang thiện. Và vì vậy họ đã thực hiện được Tư Tiền, và Tư Hiện.
Tư Tiền có Trí là nhận thấy được sự vô thường, khổ, vô ngã trong mọi sự việc. Thiên tai, lũ lụt, làm cho người đang có cuộc sống bình thường phải chịu cảnh khổ đau (vô thường), mất hết tài sản (khổ), không giữ được sự quân bình cho mình (vô ngã). Sự vô thường, khổ, vô ngã xảy ra cho bất cứ một ai, chứ không riêng gì với những nạn nhân đang cần sự giúp đỡ. Cũng nên thấy được sự Vô Ngã là ta không tự chủ được tạo hóa, không tự chủ được cuộc sống, không giữ được tài sản tạo ra một khi vô thường xảy đến.
VÍ DỤ VỀ TƯ HIỆN:
-Khi mở ví lấy tiền giúp đỡ nạn nhân lũ lụt, thì tâm nên hướng về những người đang bị hoạn nạn, thành tâm nguyện cho những điều tốt lành đến với họ (ví dụ như nguyện cho họ bớt khổ đau, thân tâm được an lạc, có tinh thần và sức mạnh để vượt qua mọi điều bất như ý, và mau chóng bình phục). Khi nguyện được như thế là bạn đã có tác ý vào việc thiện, và tạo thêm một tác ý thiện, chứ không phải làm như một theo thói quen, hay một cách máy móc. Cũng đừng nên quên nguyện “Nguyện làm nhân đến Đạo Quả niết-bàn.”
Chính vì biết hướng tâm về sự lợi ích của việc thiện, sẽ giúp cho bạn nhận thức được giá trị của việc mà bạn đang làm. Do đó quả phước Tư Hiện được viên mãn.
Điều quan trọng là, nên thực hành tư duy, suy nghĩ đến kết quả, sự thành tựu của việc thiện (gọi là Cảnh Nghiệp Tướng), hơn là tư duy đến việc thiện (Cảnh Nghiệp). Nghiệp Tướng tạo sự hoan hỷ, là hành trang, tư lương cần thiết và quan trọng cho những người đang trong thời gian trị bệnh, và đang lúc cận tử lâm chung.
- Khi làm một món thực phẩm để cúng dường đến chùa hay đến những bữa tiệc, hãy vui vẻ và thành tâm hướng về tất cả chúng sanh mà nguyện rằng, nguyện cho con và tất cả những ai dùng thực phẩm này được an vui và hạnh phúc, dứt mọi điều phiền não và mọi điều như ý nguyện mong cầu. Khi đã nguyện được như vậy thì bảo đảm thức ăn của bạn được ngon lắm, không hẳn ngon là do bạn nấu giỏi, mà ngon vì sự hạnh phúc và sự an vui của bạn đã đem đến qua các món thực phẩm.
VÍ DỤ VỀ TƯ HẬU:
Sau khi đóng góp cho nạn nhân bị lũ lụt ở Việt Nam, giả sử bạn được biết rằng món tài vật đó không đến được tay của người cần nhận, bạn không nên hối tiếc, hay bực mình. Vì nếu hối tiếc, hay bực mình (sân hận) với việc thiện đã làm thì quả phước của Tư Hậu không được tròn đầy.
Kết quả của việc thiện không được thành tựu mỹ mãn càng làm cho bạn nhận thấy rõ được sự vô thường, khổ, vô ngã trong mọi pháp của thế gian. Sau đây là một vài tư duy về Tam tướng việc thiện đã thực hiện:
+ Một việc thiện tạo ra do bạn bè kêu gọi, nay đã hoàn tất (vô thường)
+Một việc thiện được thực hiện, nhưng không có kết quả mỹ mãn (khổ)
+ Một việc thiện đã làm nhưng không tự chủ được sự thành tựu, hay không thành tựu (vô ngã).
Nếu có đầy đủ ba điều Tam Tư cùng với Trí khi hành một việc xả thí, hay làm một việc thiện, thì được quả phước tròn đầy. Tam Tư không khó thực hành, nếu có sự tu tập tỉnh giác, và chánh niệm thường xuyên. Và nếu thường xuyên thực hành thì sẽ trở thành quen thuộc. Cuộc sống tâm linh của quí vị được tăng trưởng, trở nên từ ái, vui vẻ.
Sự hiểu biết về Tam Tư này không dừng lại ở cách thực tập làm việc thiện, làm với tác ý khôn khéo, mà còn nhằm tạo thắng duyên trên con đường tu tập, uốn nắn và thanh lọc tâm 1y, trau dồi cho tâm có sự ghi nhận, tỉnh thức, biết hướng về ý thiện và thực hành điều thiện làm cho cuộc sống an vui hạnh phúc. Quan trọng hơn hết là nhận thấy được Tam tướng vô thường, khổ, vô ngã trong mọi việc thiện để không bị dính mắc, tham ái (làm thiện chỉ để lấy tiếng tăm, danh lợi hay bản ngã).
* Luôn ghi nhớ:
-Tâm là quan trọng, thanh lọc tâm để vượt qua bất thiện khi kết quả không như ý.
-Thực hiện việc thiện và nhận thấy sự vô thường, khổ, vô ngã.
-Việc thiện chỉ là phương tiện, còn cứu cánh là niết-bàn -- giải thoát mọi sự chi phối bởi vô thường, khổ, vô ngã.
Ví dụ, một người thường xuyên phát tâm ấn tống kinh sách, truyền bá lời dạy của Đức Phật, người này có những cách để tư duy như sau:
-Nếu người này suy nghĩ và ghi nhớ rằng họ đã thực hiện được nhiều việc thiện ấn tống kinh sách, và do đó sinh ra dính mắc vào việc làm. Đó gọi là nhớ nghĩ, tư duy về Cảnh nghiệp.
-Nếu người này suy nghĩ và hoan hỷ rằng việc ấn tống kinh sách và những lời Phật dạy tạo quả phước cho họ và cho mọi người phát triển tăng trưởng trí tuệ, để tu tập được sự an vui và giải thoát, tư duy như vậy gọi là tư duy về Cảnh nghiệp tướng.
-Nếu người này tư duy rằng, thực hiện mọi việc thiện là tạo quả phước báu cho họ, và làm lợi lạc tăng trưởng trí tuệ cho mọi người; nhưng thấy được rằng mọi việc thiện hay mọi pháp ở thế gian đều bị chi phối bởi Tam tướng vô thường, khổ, vô ngã, người ấy phát nguyện, quả phước báu có được do sự tu tập làm nhân thành đạo quả niết-bàn, giải thoát sự chi phối của Tam tướng.
#SưSánNhiên

Chánh niệm là gì?

 


CHÁNH NIỆM LÀ GÌ ?

Có nhiều người nghĩ rằng pháp môn chánh niệm đó là tiểu thừa. Làm ơn quí vị lên Internet đánh giùm tôi chữ Sati Mindfulness, xem coi bao nhiêu người trên thế giới, bao nhiêu cái đầu kiệt xuất của thế giới đã nói gì về chữ Sati Mindfulness. Tại sao có thêm chữ Sati đằng trước, bởi vì phải có chữ Sati thì Mindfulness mới được nhắc đến như là một pháp tu, còn nếu mình chỉ để chữ Mindfulness mà không có chữ Sati kế bên thì nó sẽ định nghĩa ..v...v theo nghĩa ngoài đời .
Từ trường đại học Yale, Stanford, Harvard, Cambridge, oxford. Tất cả những trường này họ đều có những công trình nghiên cứu cực kỳ nghiêm túc về cái gọi là Tứ Niệm Xứ. Chỉ riêng dân Việt ta thì cứ Lục Tự Di Đà làm tới, niệm mà không hiểu gì hết. Phật pháp trùng trùng, nếu mà quí vị có cái đầu không phải chỉ để đội nón thì quí vị sẽ đặt dấu hỏi ,” Nếu pháp tu chỉ đơn giản là cầu Quán Âm, cầu Địa Tạng, cầu Di Đà, thì xin hỏi suốt bốn mươi mấy năm hoằng pháp Phật nói cái gì ? Mấy tủ Kinh to đùng đó nói cái gì ? Và mấy vị thầy tu uyên thâm bác học được cả một rừng người quỳ lại trong đầu họ chứa cái gì ? Hay là chỉ chứa những câu niệm đó ? “.
Nếu chỉ đơn giản pháp tu là 6 chữ Lục Tự Di Đà đọc hoài thì thành chánh quả, thì xin hỏi nói một câu hơi phạm thượng “ Có dại lắm mới nghiên cứu kinh điển “. Bởi vì pháp môn đó đã đủ rồi. Các vị có hiểu không ? Các vị đi hỏi Ôn Nhất Hạnh Làng Mai, hỏi Ôn Thanh Từ.
Tại sao bao nhiêu cái đầu kiệt xuất nhất thế giới người ta kêu gọi mình hãy sống chánh niệm ? Phải có lý do. Bao nhiêu vấn đề lớn bé của hành tinh này đều được khởi đi từ sự thiếu kiểm soát của từng người. Tại sao có chửi lộn, đánh lộn, hờn giận, nhớ nhung, yêu đương, ghen tuông ..v..v. Tất cả đều là những giây phút thiếu kiểm soát. Chánh niệm là gì ? Là sống có kiểm soát. Và một điểm khác biệt duy nhất giữa người có học và người không có học đó là khả năng kiểm soát.
Các vị phải đồng ý với tôi một chuyện, trong đời sống này ai có kiểm soát nhiều thì người đó làm chủ thế giới. Thí dụ như một đất nước có khả năng kiểm soát về quân sự, chính trị, ngoại giao. Trong một cơ thể mình nếu Immune system mình nó có khả năng kiểm soát được thì mình khỏe, còn nếu một thứ mà nó bỏ ngỏ thì coi như đi luôn .
Sống chánh niệm có nghĩa là chúng ta đưa mọi thứ vào dòng chảy của kiểm soát. Khi chúng ta không biết Phật pháp, chúng ta sống lan man, sống kiểu bèo dạt mây trôi như chiếc lá trên dòng, sống thiếu kiểm soát là đồng nghĩa với bất trắc, mà bất trắc nó đồng nghĩa với chữ bất tường, khi mình sống có kiểm soát thì luôn luôn đi kèm với ổn định. Cho nên pháp môn Tứ Niệm Xứ là một con đường đi rất khoa học. Và từ đó Phật pháp không phải là một tôn giáo. Phật giáo không phải là Religion theo định nghĩa của tự điển. Phật giáo không giống như Hồi Giáo, Thiên Chúa Giáo. Phật giáo không giống như bao nhiêu thứ giáo khác mà Phật giáo là đạo sống, là lẽ sống, là con đường sống, là cách sống, là kiểu sống.
Phật giáo, Phật pháp không phải là cái gì đó mà chúng ta biết được thì tốt, mà là nên biết và hơn thế nữa đó là phải biết. Vì sao ? The World is what you see. Thế giới này chính là cái gì đó anh thấy. Anh thấy ra làm sao thì cuộc đời nó là như vậy, cách nhìn quyết định kiểu thấy, mình look như thế nào thì mình see như thế ấy. Và đôi khi chúng ta look mà chúng ta không see, bởi vì cách look tào lao. Cho nên thế giới chính là cái gì anh thấy. Và chính Phật giáo dạy cho ta cách nhìn về thế giới .
*Và nhớ một điều, một người Phật tử thứ thiệt có nghiên cứu kinh điển sẽ không hết hồn khi nghe tôi nói câu này :
Phật pháp thứ thiệt không hề dạy mình đội ai trên đầu mà chỉ đội lẽ phải. Trước khi Phật nhập Niết-bàn Đức Phật có nói “Những Điều Ta Dạy Là Thầy Cho Các Ngươi “
Sư Toại Khanh