Thứ Ba, 30 tháng 3, 2021

Con muỗi


Con Muỗi

Trong từng phút chứ đừng nói từng giờ, cách suy nghĩ và cách sống của chúng ta đều mang đậm cái dấu ấn của con người của mình từ tiền kiếp. Nghĩa là từ tiền kiếp tôi đã có thói quen như thế nào đó nên bây giờ khi tôi làm chuyện tầm bậy gì đó (ăn chơi, nhậu nhẹt, sân si, bạo lực, ...) thì cái bất thiện đó nó cũng phảng phất cái con người cũ của tôi trong các tiền kiếp.

Khi tôi tu hành cũng vậy, tôi đi nghe pháp, tôi học đạo, tôi ngồi thiền, tôi bố thí, tôi cúng dường, tôi phục vụ cái gì đó. Thì trong việc làm ấy đều phảng phất con người cũ của tôi. Cho nên tại sao mình phải sống chánh niệm? "Mindfulness even if your mind is full". Cái đầu mình đầy nhốc rồi mà mình vẫn phải sống chánh niệm. Là bởi vì nhiều lý do:

1. Là mình không biết mình sẽ chết lúc nào, mình ra đi trong sự tỉnh táo còn tốt hơn là ra đi trong sự hoảng loạn. Ra đi có sự chuẩn bị.

2. Khi mình sống chánh niệm mình sẽ không bỏ lỡ cơ hội chứng đạo, có hiểu không. Cơ hội chứng đạo rất quan trọng.

Có một điều tui nhắc hoài mà sợ bà con không biết hoặc quên. Ba la mật là cái gì? Tui giảng mà tui cũng run lắm. Ba la mật nghĩa là bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có khả năng thực hiện các hạnh lành, ai cũng có khả năng bố thí chút gì đó, ai cũng có khả năng khả năng dắt người khác qua đường, ai trong chúng ta cũng có khả năng làm cái hạnh lành nào đó. Và bất cứ ai trong chúng ta cũng thuận tay trái hoặc tay mặt. Thì cũng vậy, ai trong chúng ta cũng có khả năng làm cho mình và người khác hoặc khổ đau hoặc hạnh phúc. Quý vị có tin điều đó không? Vấn đề là chúng ta thuận tay nào.

Có người rất giỏi trong vấn đề làm cho người khác khổ, và rất dở trong vấn đề làm cho người khác an lạc. Tôi cũng đã từng gặp hạng người đó rồi, tức là tới lúc họ chịu tu rồi thì như Trư Bác Giới mà đi tu.

Có người khả năng làm bậy rất lớn nhưng khi họ hồi đầu thì khả năng tu tập của họ rất bén. Họ luôn luôn phải làm sao đem lại đóng góp cho người khác.

Ngược lại có những người cái khả năng làm thiện của họ lớn hơn khả năng làm ác. Nghĩa là cả đời họ cái chuyện họ nói dối, nói một câu làm người khác đau lòng nó khó dữ lắm. Tui may mắn gặp được vài người có khả năng như thế. Một phần là bản chất hiền lương, một phần là được lớn lên trong một môi trường sống, bối cảnh gia đình rất là đạo đức.

Có một cô năm nay hơn 60 tuổi. Tôi nói với cô: "Cô ơi, cô đầu thai lộn rồi. Người như cô đáng lý phải chết từ lâu rồi vì dễ bị người ta gạt. Nhìn mặt cô tôi cũng quý lắm nhưng cũng rất muốn gạt vì nhìn ngây thơ quá." Cô rất thật thà, nói gì tin nấy. Tôi cho rằng con người của cô một là đại gian, hai là đại hạnh. Đại gian nghĩa là cô có khả năng giả nai quá tốt khiến ai cũng tin.

Cho nên ai trong chúng ta cũng có khả năng làm ác, làm thiện. Ai trong chúng ta cũng có khả năng đem lại nước mắt và nụ cười cho người khác. Vấn đề là khả năng nào vượt trội hơn.

Ba La Mật là gì? Là khả năng làm thiện; nhưng trong làm thiện có 2.

1. Làm thiện với ý cầu giải thoát gọi là Ba La Mật.

2. Làm thiện mà cầu quả nhân thiên, mong cho kiếp sau được đẹp, được giàu, tài giỏi, quyền lực... tì gọi là thiện hữu lậu, thiện sanh tử. Thiện hữu lậu nghĩa là thiện mà vẫn còn dính líu đến con đường sanh tử.

Phần nhiều Phật tử chưa phải là Phật tử thật sự vì họ đến với đạo không với cái ý nguyện cầu giải thoát. Là sao?

1. Có khi chỉ vì đi theo truyền thống gia đình; bà ngoại đi chùa, má đi chùa, thế là tôi đi chùa.

2. Gia đình có chuyện buồn, hữu sự vái tứ phương. Đang có tâm sự trùng trùng, không biết nói với ai; đem vô chùa gởi. Kiếm thầy chùa để tâm sự, khóc lóc.

3. Người quen rủ đi chùa. Đi chùa vì tò mò. Lúc đầu chở bạn đi chùa rồi ngồi chờ bạn về. Ngồi lâu quá muỗi đốt; thế là vô chùa nghe pháp. Nghĩa là biết Phật nhờ mấy con muỗi.

Tôi có nghe câu này rất là Phật pháp về mấy con muỗi:

"Vì mày tao phải đập tao,
vì tao tao mới đập mày,
vì mày tao đập cả tao lẫn mày,
vì tao tao đập cả mày lẫn tao."

Cái câu này nhiều người không hiểu đạo họ nghe họ cứ đơ cái mặt ra. Còn người hữu duyên nghe có khi đắc thánh.

Tức là cuộc sống này là thương trường, là nơi ta phải trả giá, nên mới gọi là chợ đời. Mọi thứ phải được mua và bán. Cho nên có khi muốn có một nụ cười phải trả 1 cái giá rất là đắt. Ví dụ như khi bạn đang bị nhức răng, đang bị nợ nần, đang bị truy nã, gia đạo đang có vấn đề, ... Chúng ta có cười được không? Không.

Nghĩa là chúng ta phải có một cuộc sống, sức khỏe, tài chánh ổn định đến mức nào đó, chúng ta mới có thể cười được, đúng không? Muốn có 1 nụ cười không phải dễ. Chúng ta phải có một nền tảng như thế nào đó: sức khỏe, tâm lý, tài chánh, quan hệ xã hội, ... thì mới có thể cười được.

Sư Giác Nguyên giảng

Chủng tử

Chủng tử

Chúng ta hôm nay có là bác sĩ, là kỹ sư, là hoa hậu, là người mẫu, là thầy chùa, là linh mục, là bất cứ cái gì đi nữa, cao sang đạo đức cỡ nào đi nữa, nhưng mà trong mỗi người chúng ta cái chủng tử ăn phân người, chủng tử ăn thịt sống máu tươi nó luôn luôn còn đó, miễn là chúng ta còn phàm. Là vì sao? Là vì bây giờ chúng ta đang là kỹ sư, bác sĩ, chỉ cần chúng ta tắt thở một cái, có trời biết chúng ta về đâu. Chúng ta làm con bọ, con dòi thì lúc đó mình thấy đống phân là mình gặp mình mừng lắm. Mà nếu trong lúc tắt thở mà chúng ta đi về xứ Châu Phi chúng ta làm con beo, con sư tử thì sao? Thì chỉ có thịt sống máu tươi thôi.

Cho nên, cứ nhớ cái này: "Tôi có là ai trong cuộc đời này, sang trọng, giàu có bằng trời đi nữa, miễn là tôi còn phàm thì cái chủng tử, cái hạt giống, cái seed, mà ăn thịt sống, ăn phân người, cái chủng tử mà thích nước cống, nước rãnh, thích bồn cầu nó vẫn còn trong con người của tôi, không mất được". Gớm như vậy. Hiểu như vậy nó mới teo. Hôm nay mình làm đẹp, mình phấn son, mình trang sức, mình quần là, áo lụa, mắt kính, đồng hồ, dây nịt, mắt kính, túi xách; mình tưởng mình sang, mình bảnh. Nhưng nếu mà mình sống triền miên chìm sâu ở trong thích và trong ghét, thiếu niệm, thiếu định và thiếu tuệ, thiếu tàm úy, thiếu niềm tin, thì sao? Tắt thở rồi là những cái chủng tử, những cái hạt giống kia nó sẽ tìm ngay một mãnh đất để mà nó sinh sôi, nó tìm ngay lập tức. Bởi vì trong người mình có rất nhiều hạt giống mà cái gớm nhất trong đó - tôi nhắc lại - gớm nhất là cái khả năng ăn thịt sống uống máu tươi, cái khả năng ăn phân, cái khả năng lăn lộn trong cống rãnh của mình nó rất lớn, lớn lắm, mà mình không có ngờ. Tham, sân, si ở đâu thì phân người và cống rãnh nằm ở đó. Tại vì chỉ có mấy ông đó nó mới đưa mình về cái chỗ đó được. Mấy cái tâm lành, tâm thiện nó không thể đưa mình về đó được. Tín, tấn, niệm, định, tuệ, từ, bi, bao dung, cảm thông, chia xẻ, nhận thức là mấy cái không thể nào nó đưa mình xuống chỗ thấp được. Chỉ có mấy cái anh tham, sân, si, ái, mạn, kiến, nghi, tỵ hiềm, bủn xỉn, nhỏ mọn, toan tính; mấy cái đó chính là cái con đường, là cái lộ trình nó đưa mình xuống mấy cái lỗ cống, mấy cái bồn cầu; nó đưa mình vô mấy cái đống rác, nó đưa mình vào cái chốn rừng sâu núi thẳm để mà liếm láp thịt sống, máu tươi. Cho nên tùy thuộc vào đời sống của chúng ta, tùy thuộc vào 6 căn nó tiếp xúc với 6 trần bằng cái thái độ tâm thức như thế nào.

Và tôi cũng đã nói rồi: "Trình độ nó quyết định thái độ". Thái độ sống, thái độ tâm lý, thái độ tâm thức của chúng ta đối với 6 trần. Tôi nói, tôi phang mấy cái này ra thì bà con nghe ớn quá, nhưng mà đó là sự thật.

Toàn bộ nội dung cái quyển Thiền môn nhật tụng Kalama là lấy từ trong kinh tạng Phạn-Việt, tức là Pali-Việt, chứ không có cái gì của riêng chúng tôi hoặc của một cá nhân, đoàn thể nào hết. Trong đó chúng tôi có trích một bài kinh từ Trung bộ. Bài Kinh Hiền Ngu nói một chuyện lạnh xương sống. Đó là một khi mà đã lọt xuống đường đọa thì rất khó quay trở lên. Là vì sao? Là vì khi mà lọt xuống đường đọa, chúng ta chỉ sống toàn là bằng bản năng, "basic instinct". Sống toàn bằng bản năng: lớn hiếp nhỏ, mạnh hiếp yếu, đói ăn, khát uống, đực cái, trống mái, chỉ biết giao phối và tự vệ. Tự vệ có nghĩa là đứa nào đụng tới mình thì mình phản ứng, phản ứng bằng cách một là mình tấn công lại nó, hai nữa là mình co rút hoặc là mình chạy trốn. Chỉ biết bao nhiêu đó thôi: đói ăn, khát uống, giao phối và phản vệ (phản ứng và tự vệ). Các vị tưởng tượng có rất nhiều người trong chúng ta chỉ sống bằng 4 cái này thôi. Mặc dù là cũng có bằng cấp đại học, cũng có vợ đẹp, chồng giỏi, cũng có nhà lầu, xe hơi, nhưng cả ngày của mình chỉ vật lộn với 4 thứ này.

Các vị tưởng các vị có trình độ khoa học, kiến thức, văn minh? Chưa chắc. Nhiều khi cái bằng cấp của các vị, đồng ý trong mấy năm đại học, nó cho mình cái kiến thức chuyên môn. Đúng. Nhưng sau đó mình coi nó là cần câu cơm để mình đi kiếm cơm thôi, thưa quí vị. Thì mình gọi đó là hành nghề, nhưng mà thật ra nói nôm na nó là kiếm sống, mà nói tục chút xíu là kiếm ăn. Nó khổ như vậy đó. Ba cái từ đó, ba cái level, ba cái slice khác nhau. Một là mình xài cái chữ sang đó là hành nghề, tệ hơn chút là kiếm sống, mà bậy nhất là kiếm ăn. Mà khi đẩy cái chuyện hành nghề nó xuống tới kiếm ăn rồi đó, thì mình nhớ kỹ coi trong đầu của mình, mình có khác mấy cái con kia không? Con nào nó cũng ăn rồi nó ngủ một giấc, nó dậy nó đi kiếm ăn, đúng không? Nó khiếp lắm quí vị. Đều là kiếm ăn, nhưng mà do cái điều kiện, hoàn cảnh mà mỗi đứa, mỗi loài nó có kiểu kiếm ăn khác nhau, chỉ vậy thôi. Nếu mà ngoài cái chuyện lo cho tình cảm của mình, lo cho vợ chồng con cái, mà mình không biết cái gì ngoài ra thì coi chừng đời sau, kiếp khác cái chỗ cao mình khó leo lên lắm. Bởi vì cái thế giới thật sự là thế giới hiền thánh; là phải sống có trong, có ngoài, có trên, có dưới, có thân, có sơ.

Có nghĩa là quí vị phải quan sát đời sống của một vị Bồ tát như trong kinh mô tả: Ngoài cha, mẹ, vợ, con, bạn bè, thân quyến thì Ngài còn có vô vàn thiên hạ để Ngài yêu thương, Ngài chăm sóc, Ngài chia xẻ, Ngài bận tâm, Ngài nặng lòng. Đó mới đúng là bậc hiền thánh. Và các vị nhớ dùm cái này "Cái giá trị của một con người nó nằm ở sức chứa ở trái tim". Tim anh ta chứa được bao nhiêu thì cái giá trị của anh ta nặng bấy nhiêu. Chưa hết, cái giá trị của con người nó không phải nằm ở chỗ anh ta nhận được bao nhiêu, mà nó còn ở khả năng anh ta trao ra được bao nhiêu, nhớ như vậy.

Chỉ có con người, chỉ có loài động vật cao cấp, là vạn vật chi linh, nó mới có khả năng trao ra, có khả năng chia xẻ. Còn đa phần là khi mình sống mà mình chỉ biết có ru rú, ru rú cái thân này của mình, gia đình này của mình, dòng tộc này của mình. Sống như vậy thì coi chừng nó trở thành nếp sống khép kín: Một là ích kỷ bản thân, hai là nếp sống bầy đàn. Các vị biết không? Khi mà mình chỉ biết lo cho gia đình mình không, mình không biết lo cái gì ngoài ra, coi chừng rất có thể đó là tâm thức bầy đàn.

Sư Giác Nguyên giảng

Chạm đất



Chạm đất

Chúng ta thường nghĩ về những cái chúng ta cho là to tát ví dụ như sự nghiệp, sự nghiệp tinh thần, tiếng tăm, quyền lực, uy tín, tình cảm. Chúng ta nghĩ đến chuyện chúng ta sở hữu cái này cái kia. Còn việc quan trọng nhất, chí tử, cốt yếu nhất, thì chúng ta lại quên. Đó chính là cuộc đi nghìn dặm nào cũng bắt đầu từ bước đi đầu tiên. Tòa lâu đài nào cho dù lớn cách mấy cũng bắt đầu bằng viên gạch đầu tiên.

Một chiếc xe đạp và một chiếc xe 18 bánh, trọng lượng khác nhau xa lắm. Về hình dáng trọng lượng cơ cấu vận hành cấu tạo thì đúng là nó khác nhau nhiều lắm nhưng mà nó có điểm giống nhau đó là chỗ bánh xe chạm xuống mặt đường. Dầu là chiếc xe đạp thì diện tích chạm mặt đường cũng là phần rất nhỏ so với tổng diện tích của chiếc xe đạp. Còn chiếc 18 bánh thì tiếp diện của bánh xe cũng chỉ là một phần rất nhỏ so với tổng diện tích của chiếc xe.

Chúng ta có là ai và có bao nhiêu khác biệt đi nữa thì chúng ta có một điểm đồng với nhau là đời sống của mỗi người nó diễn ra trong từng phút. Mình sống 75 tuổi hay 92 tuổi thì đời sống cũng chỉ diễn ra trong từng phút hít thở, buồn vui, thiện ác, thích ghét. Giống như chiếc xe dầu cho nó có lớn hay bé cách mấy thì diện tích tiếp xúc mặt đường của nó cũng có không bao nhiêu. Thì mình cũng vậy. Toàn bộ đời sống được thiết lập trên từng khoảnh khắc hiện hữu, rất mong manh. Mà chỉ có người hiểu đạo, người hành đạo thì mới có thể sống một cách đúng nghĩa, đúng mức và trọn vẹn. Còn không chúng ta chỉ là xác chết chưa chôn. Chúng ta sống mà không biết gì về mình hết. Chúng ta chỉ nghĩ đến những cái cao vời, cao xa, hoành tráng, đồ sộ, nguy nga. Nhưng chúng ta quên một chuyện là từng phút của chúng ta trôi qua như thế nào.

Tôi có thể mạnh miệng nói câu này. Tôi tuy không phải là một bác sĩ, không phải là một nhà khoa học, không phải là một nhà sinh vật hay chuyên gia hóa học, nhưng tôi có thể dám nói rằng "Mỗi giây phút hít thở của chúng ta, mỗi ly nước chúng ta uống vào mỗi giờ đồng hồ, mỗi miếng ăn chúng ta ăn vào miệng mình mỗi bữa, nó có một ảnh hưởng cực lớn đến toàn bộ sự nghiệp của chúng ta." Tôi chịu trách nhiệm với câu tuyên bố đó.

Từng bữa ăn, mình ăn cái gì? Lượng muối mỗi ngày mình nạp vào trong người của mình là bao nhiêu phần trăm. Lượng đường lượng muối và lượng mỡ mình nạp vào hàng ngày nó quyết định sức khỏe của chúng ta. Chúng ta có giỏi bằng trời thì nếu ăn không tốt thì cũng mau đi lắm.

Rồi đến chuyện hít thở. Nếu nghĩ nó là chuyện nhỏ là sai. Chúng ta hít thở trong bầu không khí như thế nào? Không khí ô nhiễm khác nhau với bầu không khí trong lành, khác nhau xa lắm. Cho nên mình tưởng mỗi hơi thở là chuyện nhỏ là không phải. Anh thở ở đâu? Và cái hơi thở là của một người tập luyện chuyên nghiệp hay là của phản ứng sinh học tự nhiên? Vì còn sống là còn thở. Cái thở của người tập luyện khí công yoga nó khác, với hành giả nó khác. Khác nhau nhiều lắm. Và mình thở ở đâu? Thở ở chỗ khói bụi, khí độc ô nhiễm nó khác. Có thở ra và quên thở vào nó khác, thở gấp quá cũng mệt. Hơi thở thong thả, sâu chậm nó khác.

Từng hơi thở từng ly nước từng miếng ăn có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ đời sống của chúng ta.

Từng cảm xúc buồn vui, từng giây phút thiện ác trong lòng có ảnh hưởng rất lớn thậm chí ảnh hưởng toàn bộ đời sống của mình. Đừng coi thường cái buồn vui. Vì sao vậy? Cái gì làm cho anh vui nó cũng sẽ dẫn tới cái làm cho anh buồn phiền. Giá trị của một con người tương đương với cái gì làm cho họ vui và làm cho họ buồn phiền. Cái câu này nhiều người không hiểu hoặc hiểu mà bị sốc nặng lắm. Giá trị của một con người tương đương với cái gì làm cho anh ta thích, làm cho anh ta ghét, cái gì làm cho anh ta mỉm cười, hay chảy nước mắt đổ lệ. Từng giây phút buồn vui mình thấy nó không đáng gì nhưng mà nghĩ vậy là sai. Anh vui trên cái gì? Tại sao anh thích đọc sách, tai sao anh thích đánh bài, thích câu cá, thích ngồi thiền, thích tụng kinh? Cái thích cái ghét của anh, cái buồn cái vui của anh nó rất là quan trọng bởi vì nó phản ánh toàn bộ con người của anh, nó phản ánh một phần nào đời sống tâm sinh lý của anh. Sức khỏe anh phải sao đó anh mới cười được. Tôi thấy anh còn cười được tức là sức khỏe anh OK.

Mỗi cái thiện là nền cho cái ác. Và mỗi cái ác là nền cho cái thiện. Hễ còn phàm phu thì còn lẩn quẩn như vậy.

Sư Giác Nguyên giảng

Chùa to Phật lớn


Chùa to Phật lớn

Một hôm đó Đức Phật và Ngài Anan đi trên một bờ sông thì Đức Phật Ngài nhìn thấy một khúc gỗ trôi sông. Ngài mới hỏi Ngài Anan: “Anan ơi ngươi nghĩ sao, khúc gỗ này có ra tới biển không?” Thì Ngài Anan mới trả lời “Bạch Thế Tôn, không chắc lắm đâu. Bởi vì có thể trên hành trình ra biển nó bị người ta vớt, hoặc nó bị tấp vô bờ, hoặc nó bị nước xoáy rút vào đáy sông, hoặc là nó bị mục trên đường đi, và cuối cùng có thể nó bị vướng, bị mắc vào chỗ nào đó.” Đức Phật nói rằng “Cũng vậy mấy người hành đạo cũng có nhiều lý do để không đến được bờ giải thoát là do họ tấp vào bờ này, tấp vào bờ kia, trên đường đi bị cám dỗ. Khúc gỗ bị mắc cạn thì nó không đi xa. Người bị mắc cái tâm ngã mạn thì như khúc gỗ mắc cạn không trôi được.”

Bài kinh này hay lắm. Tức là khúc gỗ trên đường đi ra biển nó có nhiều lý do để không ra tới nổi, đúng không? Tấp vào bờ, hoặc là bị cuốn, bị xoáy vào đáy sông, hoặc là bị mục ruỗng trên đường, hoặc là bị người ta vớt, hoặc là bị mắc cạn thì trong nhiều lý do trong đó có mắc cạn, mắc cạn đây tượng trưng cho lòng ngã mạn.

Và các vị nên nhớ thế này. Cái câu này phải xâm nữa: "Giải thoát không chỉ nằm ở cái destination (điểm tới, mục đích) mà nó còn nằm trên cái journey (cuộc hành trình)." Tức là không phải đợi tới đích mới giải thoát, mà trên con đường đi, anh phải giải thoát trước. Có nghĩa là sao? Anh phải đi bằng cái kiểu đi của người buông bỏ thì anh mới có thể đến được cái chỗ giải thoát. Còn anh đi bằng cái tâm trạng của cái thằng đụng đâu cũng gánh, cũng vác, thì đến nơi rồi anh giải thoát cái gì?

Khi huynh trưởng của tăng già là Ngài Xá Lợi Phất viên tịch, thì Ngài Anan Ngài thương nhớ, Ngài khóc. Đức Phật Ngài hỏi Ngài Anan thế này “Anan ơi, Xá Lợi Phất khi ra đi có mang theo cái gì thuộc về tinh thần, vật chất hay không? Hay là tay trắng ra đi?” Thì Ngài Anan nói “Dạ tay trắng ra đi.” Đức Phật nói “Nếu mà bản thân Xá Lợi Phất mà phải buông hết mọi thứ để ra đi, thì Anan còn có gì để khóc?" Bởi vì mục đích cao nhất của Đạo Phật là buông bỏ.

Khi bà dì ruột của Đức Phật là bà Kiều Đàm Di Mẫu đến hỏi Phật “Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn không còn nữa thì sẽ có nhiều người họ mạo danh Thế Tôn rồi họ mạo nhận đây là lời Phật thì lúc đó hàng hậu tấn sẽ dựa vào đâu để biết đâu là lời Phật?” Ngài mới dạy rằng những điểm tựa mà người ta có thể dựa vào đó để xác định đâu là lời dạy của Như Lai, đó là:

  1. Con đường nào, cái pháp môn nào mà càng hành trì mà ta càng trở nên tinh tấn, không có biếng lười.

  2. Pháp môn nào mà người ta càng hành trì người ta càng thích sống một mình không có thích đám đông.

  3. Pháp môn nào càng hành trì người ta càng trở nên đơn giản, giản dị, dễ nuôi, không cầu kỳ, đòi hỏi tùm lum.

  4. Và đặc biệt cái pháp môn nào càng đi theo người ta càng có khả năng mở rộng bàn tay, buông hết mọi thứ.

Cái pháp môn nào càng đi theo mà nó ôm quá trời nhiều luôn là lộn rồi, có gì sai sai.

Sẵn đây tôi nói luôn cái chuyện này. Cái sai lầm lớn nhất của người tu Phật hôm nay mà tôi nói thẳng luôn là do các Phật tử. Họ là người đầu tiên khơi màu và châm ngọn lửa. Trong đầu các vị Phật tử không ít người cho rằng cái đạo nghệp quan trọng nhất của một vị tu sĩ chính là có cái chùa, mở một đạo tràng cho người ta tới họ tu. Cái suy nghĩ đó trên mặt nổi thì rất là đúng nhưng ở mặt chìm rất là đáng ngại. Là vì sao? Là chính vì cái suy nghĩ cho rằng cái đạo tràng là chỗ quan trọng, nó là cái cần có. Từ đó chúng ta nghĩ rằng cái đời tu một ông sư cái đạo nghiệp lớn nhất là trở thành trụ trì, đúng không? Mà khi làm trụ trì, quí vị thấy cái thời gian mà dành cho cái đạo nghiệp bản thân nó không có. Ăn rồi toàn là ngồi tiếp khách, ăn rồi là cân đong đo đếm, chi thu. Nhìn vào thì ông trụ trì đúng là sống cho đạo nhưng mà hơn ai hết, ổng phải tự kiểm, cái thời gian mà ổng dành cho ổng không có nhiều.

Đức Phật Ngài dạy rẳng đối với một người xuất gia chỉ có ba việc phải làm thôi: Học đạo, hành đạo và hoằng đạo. Và hôm nay, biết đâu ngày mai này tôi chết, tôi không còn nữa thì tôi mong rằng tiếng nói của tôi, tiếng gọi giữa sa mạc, giữa biển khơi, miễn là có người còn nghe.

Đó là: Phật giáo không cần ai bảo vệ mà Phật giáo chỉ cần được hiểu đúng, đó là câu thứ nhất.

Câu thứ hai: Thầy giỏi có thể tạo ra chùa, chứ chùa lớn không thể tạo ra thầy giỏi.

Trách nhiệm của Phật tử là phải hỗ trợ để đào tạo tăng tài, chứ không phải hỗ trợ để xây chùa lớn. Không có cái gì nó bậy cho bằng Phật giáo có tới hằng ngàn cái chùa lớn mà kiếm một ông thầy giỏi không ra. Một ông thầy để nói về giáo pháp kiếm không ra. Đó là đạo bị mạt, các vị biết không? Nếu tôi là cư sĩ, thà tôi nhìn thấy một ngôi chùa lá mà có 100 ông chân tu còn hơn là 100 cái ngôi chùa lớn mà không có được 1 ông chân tu. Tôi không có cần. Bởi vì khi mà tôi có vấn đề về đời sống, về tâm linh, cái tôi cần là ông thầy chùa giỏi chứ tôi không cần cái chùa lớn. Vậy mà hôm nay đa phần Phật tử cứ cắm đầu chổng mông là cúng dường đúc chuông, đúc tượng, cất chùa to lớn, hoành tráng, uy nghi, khí thế hừng hực cao ngút trời xanh, mà mình quên một chuyện rất là quan trọng: Khi anh đang vô sự thì anh cứ khoái tạo dựng lên một cái thứ Phật giáo hình thức. Nhưng khi anh hữu sự rồi thì anh rất cần đến một thứ Phật giáo nội dung.

Phật giáo không cần ai bảo vệ mà Phật giáo chỉ cần được hiểu đúng.
Thầy giỏi có thể tạo ra chùa, chứ chùa lớn không thể tạo ra thầy giỏi.

Phật giáo nội dung là gì? Đó là những tăng ni, những người Phật tử có giáo lý, có thể ngồi lại chia xẻ cái tâm tư với mình, những thao thức, những trăn trở với mình. Phật giáo không phải là chùa to, Phật lớn.

Phật giáo Miến Điện rất là căn bản. Khi một ông sư Miến cạo đầu đắp y chuyện đầu tiên là đè nó ra cho học giáo lý trước cái đã. Cái chuyện mà mai này nó lớn lên nó có tu hành đàng hoàng hay không chưa biết. Nhưng mà chuyện đầu tiên, nó có học giáo lý. Lỡ có ai hỏi thì cái mà nó phun ra là nó phun đúng. Còn người Việt Nam mình thì coi vấn đề giáo lý không quan trọng. Chuyện đầu tiên là cạo đầu đắp y với cái tinh thần phe phái cực lớn. Tôi là sư phụ, tôi trụ trì chùa này. Đệ tử của tôi tôi thương là đủ, cả đời này tôi nuôi nó nó ăn hỏng hết. Tôi chết rồi thì cái chùa này của tôi cho nó. Nó dốt như con heo không thành vấn đề bởi vì nó sẽ là trụ trì chùa này. Đó là quan điểm của Phật giáo Việt Nam. Những gì tôi đang nói nó sẽ đến tai rất là nhiều người nhưng tôi vẫn nói. Quan điểm sai lầm và đáng tiếc nhất của Phật giáo Việt Nam là không xây dựng con người, chỉ xây dựng cơ sở. Trong khi lẽ ra mọi thứ phải đi ngược lại. Chúng ta phải xây dựng con người vì con người tạo ra cơ sở chứ không có cơ sở nào tạo ra con người.
Sư Giác Nguyên giảng

Chánh tinh tấn


Chánh Tinh Tấn

Đừng có nói với tôi là cụ đó sống được 80 tuổi, hồi trẻ bôn ba tới hồi về già 50-60 tuổi cụ dẹp hết cụ chuyên tâm niệm Phật, tu hành tinh tấn. Mình nghe mình tưởng ngon lắm. Nhưng mà không phải đâu. Trong tinh thần Phật Pháp, cái đoạn cuối đời nó sẽ rất là tuyệt vời khi trước đó mình đã có trớn. Tu học hồi trẻ thì nó có cái trớn đó, thì càng về già thì gừng càng già càng cay. Người mà biết Phật Pháp càng lâu năm, nó cô, nó sắc lại, cái tuổi già của họ nó biến họ thành một món đồ antique, món cổ vật, hiểu không? Còn mà nếu tuổi trẻ mình không có một cái trớn Phật Pháp thì cái tuổi già mà mình biết Phật Pháp, thì dĩ nhiên thì nó vẫn tốt hơn là học tiếp, nhưng mà nó cũng hơi muộn. Lúc bấy giờ mình chỉ là món đồ cũ thôi quí vị. Nhớ nha. Mình sống mà hồi trẻ không có những chuẩn bị tâm linh tinh thần, tì về già mình thành món đồ cũ chớ không phải đồ cổ. Mặc dù hai cái chữ này nghe nó hơi hao hao, nó từa tựa nhau, hơi giống giống nhau vậy, cũ với cổ, nhưng mà khác nhau nhiều lắm. Đồ cổ là người ta có thể băng rừng, vượt suối người ta tới người ta quì, người ta lạy mình để người ta mua lại cái món đồ cổ. Tại quí vị không có chơi quí vị không có biết chuyện đó. Có nhiều cái món đồ cổ mà người ta sẵn sàng bán nhà, bán đất để mà người ta tới, người ta lạy mình để người ta mua lại. Nhưng mà đã nói đồ cũ thì tình hình nó khác đi nhiều lắm.

Cho nên, ở đây chánh tinh tấn là cái gì? Chánh tinh tấn là nỗ lực đúng chỗ, biến từng phút trong đời trở thành ra là những phút giây giá trị. Một tháng một năm trôi qua là một tháng một năm có giá trị vì một tháng một năm ấy có nỗ lực.

Nỗ lực trong hai điều, bỏ đi cái ác và vun bồi cái thiện. Tứ chánh cần gôm gọn còn có hai điều đó thôi: Nỗ lực bỏ cái gì không cần thiết và vun bồi cái cần thiết. Đó gọi là chánh tinh tấn. Người cư sĩ đương nhiên là cái sự nỗ lực tinh tấn nó không giống người xuất gia. Người xuất gia thì tùy cái hạnh nguyện. Có vị thì tinh tấn để gầy dựng đạo tràng, làm trụ trì, có vị trở thành một thiền sư, có vị trở thành một pháp sư, giảng sư, v.v. Nhưng mà nói chung lại tất cả mọi nỗ lực trong Phật Pháp đều phải nhắm đến hai cái tinh thần: một là tự lợi, đem lại lợi ích cho mình đời này và đời sau; thứ hai là lợi tha, có nghĩa là bất cứ một xuất sử nào của tam nghiệp đều phải có thêm ý nghĩa thứ hai nó mới thật sự là trọn vẹn.

Đó là anh làm cái gì lúc nào cũng phải tính đến thiên hạ.

Thí dụ như bây giờ ở trong chùa mình trồng một cái bông, mình cân nhắc mình trồng một cái bụi bông, mình trồng cái bông đó không phải là cho mình. Hoặc trong nhà mình, mình trồng cái bông đó không phải là cho mình, mà mình nghĩ rằng cái bụi này nó lớn lên, cây nguyệt quế, dạ lý mà đêm đêm, người đi ngang chỗ này sẽ nghe mùi thơm.

Cũng giống như bản thân tôi. Từ hồi bé không hiểu vì sao, tiền kiếp như thế nào, mà tôi đặc biệt tôi yêu cái mùi hoa sứ trắng. Yêu lạ lắm, tôi yêu cái mùi sứ trắng, hoa sứ trắng. Mùi thứ hai là mùi hoa lài. Chứ còn mà dạ lý với lại nguyệt quế tôi chịu không nổi, nó hắt, nó nồng lắm. Về Kalama tui sẽ trồng hai cái loại đó, hoa sứ trắng, cái mùi sứ trắng với mùi hoa lài. Loại thứ ba nữa đó là nó xấu, ta nói nó xấu như là Trương Chi mà tui mê nó còn hơn mê Mỵ Nương nữa. Đó là cái hoa ngọc lan. Không biết quý vị có biết cái hoa đó hông? Cái hoa đó, trời ơi, cái cây nó xấu, xấu quằn xấu quại, xấu đau xấu đớn, mà nguyên cái chùm bông nó nhìn như lá vậy đó, mà nó thơm, nó thơm ngọt lắm quí vị, thơm nó thơm ngọt lắm. Đấy, thì khi mà mình chỉ hạ thổ mình trồng một cái cây, mình có nghĩ rồi đây những người đi ngang đây đêm hôm, họ ngồi dưới gốc cây này họ sẽ được thoải mái. Thì đó, chánh tinh tấn là vậy đó. Nó phải hội đủ hai ý nghĩa, một là tự lợi, hai là lợi tha. Chuyện lớn chuyện bé gì cũng phải nghĩ đến hai điều đó, tự lợi và lợi tha.

Như vậy thì cái đời sống mình mỗi phút trôi qua đều có giá trị tuyệt đối, có những người họ chỉ nghĩ đến chuyện tự lợi họ không nghĩ tới người khác. Cái chuyện mà mình vun xới cho người khác thật ra nó cũng là một kiểu vun xới cho bản thân, quí vị biết không? Người không học đạo không biết chỗ này. Mình ăn rồi mình cứ cắm đầu lo cho mình, vợ chồng mình, con cái mình, gia đình mình, dòng họ mình, gia tộc mình. Nhưng mà mình quên một chuyện khi mình nghĩ đến người khác cũng là mình đang nghĩ về mình đó.

Đó gọi là chánh tinh tấn.

Sư Giác Nguyên giảng

Bồ tát

 


Bồ Tát

KTC 6. 9. 73 Thiền
Không đoạn tận sáu pháp, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được an trú sơ Thiền. Thế nào là sáu? Dục tham, sân, hôn trầm - thụy miên, trạo hối, nghi, không như thật khéo thấy với chánh trí tuệ các nguy hại trong các dục. Không đoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể đạt được và an trú sơ thiền.

dục thamsânhôn trầm
thụy miên
trạo hốinghi
kāmacchandabyāpādathina-middhauddhaccakukkuccavicikiccha

AN 6. 9. 73. Paṭhamatajjhānasuttaṃ
Cha, bhikkhave, dhamme appahāya abhabbo paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharituṃ. Katame cha? Kāmacchandaṃ, byāpādaṃ, thinamiddhaṃ, uddhaccakukkuccaṃ, vicikicchaṃ, kāmesu kho panassa ādīnavo na yathābhūtaṃ sammappaññāya sudiṭṭho hoti. Ime kho, bhikkhave, cha dhamme appahāya abhabbo paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharituṃ.

"Người muốn chứng thiền phải lìa được 5 triền cái  thấy được cái tai hại của dục lạc." Tại sao ở đây mình thấy kể 5 triền cái, đầu tiên là tham dục, mà tới cái thứ 6 Đức Phật Ngài lại kể riêng là thấy được nguy hiểm trong các dục?

Trong một khoảnh khắc nào đó chúng ta có thể ly dục, không thích gì hết và ngay trong khoảnh khắc đó chúng ta có thể chứng thiền. Chẳng hạn như bồ tát Tất Đạt Ngài không có biết dục là gì, Ngài cũng không có biết ly dục là gì, nhưng khi Ngài lên 7 tuổi, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi miễn là dục ái vắng mặt thì bồ tát có thể chứng thiền, chứng được sơ thiền, đúng. Nhưng mà bồ tát chưa có được cái thứ 6 này, có nghĩa là Ngài không có thấy được nguy hiểm trong các dục. Bây giờ các vị hiểu chưa? Đây là lý do vì đâu đã lìa 5 triền cái mà tại sao Đức Thế Tôn Ngài kể luôn cái thứ 6 là bởi vậy đó.

Thái tử Tất Đạt thấy rõ ràng rằng trong một tích tắc đã là người ly dục cho nên mới chứng được sơ thiền chứ, nhưng mà bồ tát Tất Đạt chỉ được 5 cái điều đầu tiên thôi. Tức là sự vắng mặt tạm thời của 5 triền cái và nếu mình đủ duyên và tu đúng, nghĩa là đúng và đủ, thì trong tích tắc có thể chứng được sơ, nhị, tam, tứ thiền, đúng vậy. Nhưng mà không có cái thứ 6 thì cái quả chứng ấy không bền. Là vì sao? Là vì có rất nhiều và rất nhiều những người đắc thiền xong, rồi quay lại đời sống thế tục và không có thể trở lại với thiền định được nữa. Con số này đông hơn quân Nguyên chứ không phải là đông như quân Nguyên mà là đông hơn quân Nguyên. Có nghĩa là có vô số người trong cuộc đời này, trong đời sống của họ, họ đã từng đắc thiền, đắc sơ thiền mà họ không biết. Có, kể cả họ không biết Phật Pháp. Chẳng hạn như những vị đạo sĩ, có rất là nhiều người trong hàng Phật tử mình. tôi nghĩ rằng cái chuyện mà thời nay tôi không biết, nhưng theo mô tả trong kinh thì thời Đức Phật cái người mà đắc sơ thiền trong tích tắc nhiều hơn quân Nguyên. Là vì sao? Vì mình thấy thái tử Tất Đạt 7 tuổi biết cái gì mà còn đắc sơ thiền. Có một điều là do họ không biết. Họ không biết cái cảm giác đó là cái gì. Nếu mà có học đạo và có thầy kèm cặp thì biết, còn không thì như chính Ngài, lúc đó Ngài chỉ biết cảm giác rất là an lạc. Nếu mình là người huệ căn thì mai này mình có thể quay lại cảm giác đó bằng cách là thực hiện những thao tác cũ, thí dụ như hơi thở: "Bữa hổm mình làm sao mình được cảm giác đó ta?" Ngồi yên, biết rõ hơi thở ra, biết rõ hơi thở vào. Với sự tập trung ấy, 5 triền cái vắng mặt, thời gian lâu mau tùy người, thì tâm sơ thiền xuất hiện. Lúc đó họ không biết đó là tâm sơ thiền, họ chỉ biết đó là cảm giác an lạc và thanh tịnh. Nếu họ muốn cảm giác đó quá thì họ phải quay lại với thao tác cũ, ngồi yên lại theo dõi hơi thở, ra biết là ra, vào biết là vào. Rồi với sự tập trung ấy, 5 triền cái vắng mặt, và nếu đủ duyên thì tâm sơ thiền xuất hiện. Họ chỉ biết tới đó thôi.

Nhưng còn cái vụ thứ 6 này không phải ai cũng có. Đó là thật sự biết chán sợ trong 5 dục.

Tôi nhắc lại, bài kinh này rất là sâu. Sâu ở chỗ nào? Sâu ở chỗ này: Anh muốn thực hiện cái gì chỉ cần anh làm đúng kỹ thuật thì anh sẽ làm được, có một điều là anh cần đến một cái nền tảng nhận thức, một nền tảng kiến thức để mà hỗ trợ cho công việc ấy. Tôi nói lại lần nữa, bất cứ việc gì nếu anh áp dụng đúng kỹ thuật thì anh sẽ thực hiện được, nhưng mà để đạt được sự lâu bền thì anh phải cần đến một khả năng nhận thức rất là vững vàng. Quý vị có hiểu cái đó không?

Có nhiều sự trong đời, có nhiều trường hợp trong đời này, chúng ta thực hiện thành công bằng sự ngẫu nhiên. Nhưng mà nếu muốn quay trở lại với sự thành tựu ấy và kéo dài nó, biến nó thành sở hữu của mình, thì chúng không còn là vấn đề ngẫu nhiên, không còn là vấn đề may mắn mà chúng ta phải tuân thủ chặt chẽ kỹ thuật. Quí vị thấy được cái đó không?

Cho nên 5 cái đầu có thể chỉ là sự may mắn, nhưng mà riêng cái thứ 6 này bắt buộc phải có thông qua một sự chuẩn bị, thông qua một sự đầu tư nghiêm túc. Đây chính là vì sao ở đây bên cạnh cái việc lìa bỏ 5 triền cái Đức Thế Tôn lại kể thêm điều thứ 6 là vậy đó quí vị.

Tôi nhắc lại bồ tát Tất Đạt rõ ràng trong một khoảnh khắc ngắn ngủi nào đó Ngài lại không có 5 triền cái và Ba la mật của Ngài phải nói là nhiều như biển, như núi, như trời cao đất rộng cho nên tích tắc là Ngài có ngay cái sơ thiền nhưng mà ngay lúc đó Ngài không có được cái thứ 6, Ngài không biết chán sợ trong các dục.

Tôi nói lại một lần nữa, cái đặc điểm của một vị bồ tát là cái gì? Là luôn luôn hướng tới cái tốt hơn, thứ hai khả năng buông bỏ rất giỏi và thứ ba không tự giam nhốt mình trong bất cứ một cái nhà ngục nào. Nếu hôm nay những người nào nghe giảng bài pháp này thì chỉ cần ghi 3 đặc điểm của bồ tát về cũng có thể tu được một đời, tu được muôn kiếp chỉ bằng 3 cái này:

  • Một, luôn hướng tới cái tốt hơn, về mặt tinh thần nha.
  • Hai là khả năng buông bỏ rất giỏi, bởi vì khi anh muốn hướng tới cái tốt hơn thì anh phải có khả năng buông bỏ chứ. Chứ còn bây giờ mà anh cứ ôm cái nhà cấp 4 tôn thấp lè tè, lè tè thì làm sao anh có thể về Thảo Điền hay Phú Mỹ Hưng anh có cái nhà khác được, nha. Anh phải có cái gan bỏ cái nhà bên lỗ cống thì anh mới đi xa được.
  • Thứ ba, không bị giam nhốt trong bất cứ nhà ngục nào cho dầu đó là một cái thành tựu lớn bé, cho dầu nó là một niềm đam mê như thế nào đi nữa thì bồ tát luôn có khả năng đó.
Một là hướng đến cái cao hơn, tốt hơn. Hai là bồ tát có khả năng buông bỏ rất giỏi. Ba là không tự giam nhốt mình trong bất cứ một cái nhà ngục nào.

Từ đó, bồ tát có thể thực hiện vô số hạnh lành. Đặc biệt về mặt tình cảm bồ tát không có tự giam nhốt mình trong cái gọi là tình thân. Đối với bồ tát thì muôn loài, vạn loài chúng sinh thảy đều là người một nhà bởi vì bồ tát không có bị giam nhốt. Về trí tuệ, bồ tát không ngừng tìm tòi trong văn, tư, tu. Còn về tình cảm thì bồ tát không bị giới hạn bởi những biên giới, bởi những giới tuyến, bởi những rào cản, bồ tát thương hết muôn loài.

Còn mình thì sao? Mình nói cho đã nhưng mà cuối cùng cái gọi là "thương" của mình chỉ là "ái" thôi chứ đừng nói từ. Mà đã nói ái là gì? Ái là thương yêu có điều kiện và trong giới hạn, còn từ bi thì không. Từ bi đúng nghĩa là không cần điều kiện và không có ranh giới thì cái tâm ấy mới được gọi là vô lượng tâm. Chứ còn cái thứ tâm từ mà chỉ rải riêng cho cái người nhà, cho bồ nhà, cho nội bộ, cái đó chưa được gọi là vô lượng tâm mà coi chừng nó mới còn ở cái mức tham ái. Mà trong khi đó từ tâm là không cần điều kiện và không có biên giới, còn tham ái là yêu thương có điều kiện và bị giam nhốt trong biên giới.

Sư Giác Nguyên giảng

Bốn dự lưu phần

Bốn Dự Lưu Phần

Mình không hiểu gì về Phật hết thì làm sao mà mình có thể thương kính Đức Phật như là một người học hiểu giáo lý? Khó lắm quí vị. Mình thờ Phật như kiểu thờ thần vậy. Trong khi đó vị Tu đà huờn lại khác.

Người đầy đủ tri kiến là chỉ cho vị Tu đà huờn, tầng thánh đầu tiên. Người ta hiểu rất rõ là kể từ bây giờ dòng sanh tử của mình đã bị chận đứng, mình chỉ còn tái sanh nhiều lắm là vài kiếp nữa thôi, chắc chắn là mình phải chấm dứt sanh tử luân hồi. Nghĩ tới cái chỗ đó, nghĩ tới cái nổi khổ trong 3 cõi 6 đường, ngũ thú lục đạo, lúc đó họ mới thấy cái ơn của Phật đối với họ lớn cỡ nào. Nhờ con người ấy mà mình bây giờ mình không còn sợ hãi trong cái chuyện sa đọa, không có sợ hãi trong cái chuyện sanh tử trầm luân nữa. Ơn đó không có trời biển nào chứa cho hết, không bút mực nào ghi cho hết, không có không gian nào có thể sánh được cái lòng tri ơn vô bờ vô hạn ấy. Mình phải hiểu tới nơi tới chốn như vậy. Vị Tu đà huờn là người hiểu tới nơi tới chốn và họ tin Phật. Và còn một điều nữa là Tu đà huờn thành tựu 4 dự lưu phần.

Bốn dự lưu phần là gì? Ba cái đầu là niềm tin bất động nơi Tam bảo. Bất động, bất thối. Nghĩa là trời có thể sập xuống, thân xác của họ có thể tan nát thành tro bụi, nhưng mà niềm tin của họ đối với Phật, Pháp, Tăng (Thánh Tăng) không thay đổi. Không thay đổi được. Đó là 3 dự lưu phần đầu tiên. Cái dự lưu phần cuối cùng là giới nào mà họ đã nhận, thì họ không có cách nào họ phạm được dầu là phải chết. Vị Tu đà huờn dầu là chết không bao giờ phạm giới mình đã nhận. Thí dụ như họ nhận giữ ngũ giới, hoặc là bát giới, hoặc là thập giới, sa di giới, tỳ kheo giới, một khi họ đã nhận rồi thì họ không có cách chi mà phạm những giới mà mình đã thọ hết. Chính vì cái lẽ đó cho nên vị Tu đà huờn đối với Đức Phật bằng niềm kính tin tuyệt đối.

Còn mình thì sao? Mình không có hiểu nhiều về Phật, mình đến với Phật bằng một lý tưởng, một ý nghĩa, một lý do rất là mơ hồ. Cho nên cái chuyện mà mình bỏ Phật để theo ông Tư, bà Tám, nước lạnh, nước sôi rất là dễ, dễ ẹc. Tại vì mình có hiểu Phật Pháp cái gì đâu? Mình đến với Phật Pháp quá dễ dàng, quá đơn giản, không có cần tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu, thẩm tra, suy tư, tư duy gì hết. Cứ xáp vô là có cái áo tràng, cứ xáp vô là có cái pháp danh, quăng tiền ra cúng ba mớ là đương nhiên được mọi người gọi là phật tử. Cái kiểu phật tử đó, cái người như vậy đó, thờ Phật kiểu đó, tin Phật kiểu đó thì xa Phật trong vòng ba giây. Ba giây là xa Phật ngay. Bất mãn ai đó là bỏ chùa, bị ai đó quyến rũ cũng bỏ chùa, bỏ Phật mà đi.

Còn vị Tu đà huờn thì không như vậy. Vị Tu đà huờn thành tựu niềm tin nơi Đức Phật bằng trí tuệ giác ngộ. Họ thấy rồi họ mới tin. Họ thấy cái gì? Họ thấy được những điều mà phàm phu không có thấy. Họ thấy chắc chắn rằng mọi sự ở đời là khổ, mọi hiện hữu là khổ trong bất cứ hình thức nào, nhân thiên hay cõi đọa đều là khổ, nụ cười hay nước mắt đều là khổ. Thứ hai nữa là họ thấy thích cái gì cũng là thích trong khổ. Muốn hết khổ thì phải hết thích. Và sống trong 3 nhận thức ấy chính là con đường thoát khổ. Đức Phật là người đã ban cho mình nhận thức này. Họ chỉ nghĩ tới đó là có thể chết vì Ngài mặc dù Ngài không có cần, Ngài không có cần ai chết cho Ngài. Nhưng mà cách nói về tấm lòng của vị Tu đà huờn là chết 3 ngàn lần cho Phật họ vẫn vui vẻ, tự nguyện, không có thắc mắc, không có do dự, không có phân vân, không có toan tính.

Sư Giác Nguyên giảng