Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021

Tham khảo trái tim thứ 2 và thứ 3



BẠN CÓ BIẾT QUẢ TIM THỨ 2 VÀ THỨ 3 LÀ GÌ?

NHỊP ĐẬP CỦA TRÁI TIM THỨ NHẤT:
Tất cả mọi người chúng ta hiện đang sống, đang làm việc đều nhờ một trái tim hoạt động trong cơ thể. Nếu tim bị suy yếu thì tính mạng bị đe dọa hoặc ngừng đập thì ta sẽ chết.
Chúng ta hãy làm một con toán để biết trong cuộc đời chúng ta từ khi sinh ra cho đến lúc nhắm mắt tim đã đập bao nhiêu lần thì sẽ thấy vô cùng kinh khủng, từ đó chúng ta mới thấy thương trái tim chúng ta:
Trung bình 1 phút tim đập 72 nhịp.
Một giờ 60 phút: 72 x 60 = 4.320 nhịp.
Một ngày 24 giờ: 4.320 x 24 = 103.680 nhịp.
Một năm 365 ngày: 103.680 x 365 = 37.843.200 nhịp.
Trung bình con người sống 70 năm: 37.843.200 x 70 = 2649. 024.000 nhịp.
Tức là: 2 tỷ sáu trăm bốn mươi chín triệu hai mươi bốn ngàn nhịp đập trong suốt 70 năm của đời người trong nhân gian.
Ôi chao! Thật là khủng khiếp. Một trái tim nhỏ bé của mỗi người trong một cuộc đời lại đập liên tục với số lần như thế. Biết như thế để ta nên thương cho trái tim nhỏ bé ấy và nên cộng tác giúp đỡ nó trong công việc tống máu đi nuôi cơ thể, đừng để nó bị suy sớm mà nguy hiểm đến tính mạng.
TRÁI TIM THỨ 2:
Chúng ta phải giúp đỡ cho trái tim thứ nhất của chúng ta bằng cách chia công việc cho nó để nó đỡ phải gắng sức làm việc nhiều nếu không thì chẳng bao lâu trái tim thứ nhất đó sẽ bị suy tức là chưa già đã suy, tuổi thọ sẽ bị giảm bớt đi rất nhiều.
Trái tim thứ 2 đó là gì? Đó chính là CƠ HOÀNH của chúng ta
Nghe qua thì tất cả ai ai cũng lấy làm lạ và ngạc nhiên nhưng theo sự phân tích của y khoa Tây Y sau đây chúng ta sẽ hiểu rõ vấn đề:
1/ Thở bụng dưới bằng cơ hoành là biện pháp tối ưu nhất giúp cho trái tim thứ nhất đỡ mệt mỏi gắng sức tống máu đi nuôi cơ thề. Khi hít vào thì phình bụng, cơ hoành hạ thấp xuống làm cho oxygen đến tận cùng màng tim, cơ tim. Trái tim thứ nhất chỉ cần giãn ra rất nhẹ cũng đủ lấy đầy đủ máu.
2/ Khi thở ra bụng hóp lại, cơ hoành bị đẩy lên trên tối đa ép các mạch máu mạnh nhất giúp cho cơ tim co bóp không gắng sức cũng đủ tống máu đi khắp cơ thể một cách thong thả nhẹ nhàng nhất. Cơ tim không cần phải làm việc nhiều như khi thở ngực vì ở đây cơ hoành phụ giúp cho sự co bóp trái tim thứ nhất. Do đó cơ hoành là trợ lý đắc lực nhất cho tim.
3/ Nhờ những tác động đó mà cơ hoành đã chia bớt gánh nặng cho tim và tim sẽ hoạt động bớt lại nên tim sẽ khỏe hơn và tránh được suy yếu theo thời gian. Vì thế mà cơ hoành được gọi là trái tim thứ 2.
4/ Thở bụng dưới cơ hoành cùng với tim giúp đưa oxygen đến khắp các cơ quan nội tạng vùng bụng bên trong. Khi cơ hoành đưa lên hạ xuống theo nhịp thở là một trạng thái massage đều đặn nội tạng và đưa máu đủ đến gan, lách, thận, ruột, bàng quang, tử cung, tiền liệt tuyến.v..v... phòng ngừa bệnh ở các tạng này rất hiệu quả.
5/ Giúp chống lại bệnh nhiễm trùng của hệ tiết niệu như thận, bàng quang.
6/ Máu được đưa đầy đủ về vùng chậu như, tử cung, buồng trứng làm giảm các triệu chứng tiền mãn kinh của phụ nữ.
7/ Phổi được co vô và nở ra tối đa, oxy đến phổi đầy đủ nhất nên ngừa được bệnh phổi.
8/ Tiêu hóa: làm tăng chức năng của dạ dày, gan, lách nhất là máu đến đầy đủ dạ dày, lách làm quá trình chuyển hóa thức ăn được dễ dàng và thuận lợi.
9/ Điều hòa thần kinh thực vật do đó huyết áp ổn định.
10/ Khi thở bụng cơ hoành thì sẽ có tác dụng ức chế mọi tạp niệm ở não, chống stress, chống đau, an thần do chất endorphin được tiết ra từ não trong lúc thở bụng.
KẾT LUẬN:
Xuyên qua 10 đặc điểm chính đó ta sẽ thấy cơ hoành xứng đáng là trái tim thứ 2 của cơ thể, chia việc cho trái tim thứ nhất để cho tim khỏe mãi không suy yếu. Thật vậy ở những người tập luyện thở cơ hoành thì có các đặc điểm sau:
A - Sau một thời gian luyện tập thở cơ hoành, sắc khí của họ hồng hào rõ nhất vì máu đến được tận cùng tế bào.
B - Nhịp đập của tim giảm lại chỉ còn 60-65 nhịp/phút.
C - Những nhát bóp của tim chắc chắn và mạnh mẽ có nghĩa là co và bóp đúng chất lượng dù cơ tim không cố gắng.
D - Khoảng sau một năm dù trong lúc nghĩ ngơi họ không còn thở ngực nữa mà đã có phản xạ thở bụng hằng ngày tự nhiên một cách vô thức dù không nghĩ đến thở bụng. Đó là đích đến thành công nhất trong công việc san sẽ cho trái tim thứ nhất khỏi bị quá tải và suy yếu.
Tóm lại, chúng ta nên thở bụng ngay từ bây giờ ở bất cứ tuổi nào. Mỗi ngày nên để ra 5-10 phút luyện thở bụng thì sau một thời gian ta sẽ có thở bụng vô thức như đã nói ở trên. Vô lý 5-10 phút mỗi ngày không có hay sao??? Trừ khi chúng ta lười biếng mà thôi.
Tây y đã đồng qui với Khí Công trong sự thở bụng để bảo vệ sức khỏe và trái tim nhỏ bé của chúng ta và nên nhớ thở bụng là cứu cánh của khí công nói riêng và y học phương Đông nói chung…
Chúc mọi người ngộ sớm và áp dụng dù ở bất cứ tuổi nào, có bệnh hoặc không bệnh. Điều kỳ diệu sẽ đến với các bạn không lâu…khi các bạn thực hành thở bụng.
QUẢ TIM THỨ BA
Trong phần trên chúng ta đã bàn luận trái tim thứ 2 là gì, phần này chúng ta sẽ bàn luận trái tim thứ 3. Thật vậy khi chúng ta đang sống cứ nghĩ rằng ta chỉ có một trái tim mà thôi. Nếu nghĩ như vậy thì có ngày chưa già tim chúng ta sẽ suy yếu và hậu quả là tử vong do suy tim dần dần mà không biết.
Chúng ta phải hiểu thật rõ trái tim thứ 2, thứ 3 là gì để từ đó giúp và cộng tác cho trái tim thứ nhất của chúng ta bớt làm việc và làm việc nhẹ nhàng, hiệu quả hơn trong một cuộc đời 70 năm liên tục với số nhịp đập là 2649 tỉ 024 triệu nhịp trong 70 năm sống giữa trần gian
Hãy thương xót nó, nếu không, có ngày nó sẽ suy yếu và không còn đập nữa và ta sẽ nhắm mắt lìa đời dù các cơ quan khác vẫn còn tốt, thật là đáng tiếc làm sao…
TRÁI TIM THỨ 3 đó chính là lòng bàn chân. Chắc các bạn ngạc nhiện lắm phải không? Xin từ từ đọc những lợi ích của nó về mặt đông tây y thì sẽ rõ.
Về mặt Tây y:
1/ Lòng bàn chân là nơi có nhiều mạch máu, mao mạch ngoại biên nhất, có cả hàng ngàn mao mạch. Nếu máu ở đây được cung cấp tốt thì ta sẽ khỏe hơn và nếu lòng bàn chân được kích thích nhiều thì các mao mạch ở đó sẽ dãn nỡ, oxygen đến tận cùng tế bào đầy đủ nhất. Kết quả huyết áp sẽ hạ trong chừng mức sinh lý và máu ra ngoại biên nhiều hơn, bệnh tật ít có cơ hội phát triển. Nhất là trái tim đỡ phải tống máu tối đa vì các mao mạch lòng bàn chân dãn nỡ sẽ làm cho máu tự động đi ra ngoại biên hơn là cần lực tim co bóp mạnh đẩy máu đi đến đó.
2/ Hơn nữa lòng bàn chân ở một vị trí thấp nhất của cơ thể nên các mạch máu ở đây khi dãn nỡ thì sẽ tạo một lực hút mạnh kéo máu khắp châu thân đi xuống và ra ngoại biên rất đầy đủ mà không cần đến lực bóp nhiều của tim do đó có thể trợ lực cho tim một cách hữu hiệu. Tim không cần phải cố gắng mà chỉ cần những nhát bóp nhẹ nhàng cũng đưa máu ra ngoại biên, tim sẽ khỏe và bền vững với thời gian mà không suy yếu lúc tuổi chưa già hoặc tuổi đã già.
3/ Nếu để cho lòng bàn chân lạnh thì các mạch máu ở đó sẽ co lại càng làm cho oxy không ra đủ ngoại biên và tim phản ứng lại bằng cách tăng cường lực co bóp, lâu ngày sẽ làm tim yếu và suy. Thực hiện ngâm chân nước nóng trước khi đi ngủ ở một vài bài tập dưỡng sinh hay dùng máy sấy tóc sấy ấm lòng bàn chân.
(Nguồn: #Phụngsựxãhội)

Quán không



QUÁN KHÔNG

Một trong năm cách đối phó với tâm hờn giận, thù ghét ai đó là ‘quán không’ (Asatimanasikāra). Nghĩa là xét rằng mọi hiện hữu chỉ là nắm bụi trong gió, trong hư không.
Chú giải giải thích rằng, coi như nắm bụi trong gió vậy.
Nói như vậy không có nghĩa rằng mình coi thường người ta mà là mình quán xuyên thấu bản chất thực sự của mỗi chúng sanh trong đời này chỉ là một nắm bụi trong hư không.
Khi mình giận ai quá, mình nghĩ chẳng qua là nắm bụi này đang giận nắm bụi kia, đó là ‘pháp quán không’. Quí vị còn nhớ câu chuyện chiếc thuyền trong đêm (*) của Nhựt bổn không? Thiền phổ ngữ lục của Nhật có kể một câu chuyện, đang đêm trên sông, có một chiếc xuồng khác tông vào xuồng của mình. Tâm trạng của mình sẽ không giống nhau trong hai tình huống chiếc xuồng đó có người và chiếc xuồng đó không có người. Ở đây cũng vậy, nếu mình không quán không thì mình còn coi có bỉ có thử, có ta có người, có mình có hắn có ả có mụ thì mình mới nổi dịch lên, còn nếu nói rốt ráo thì mình coi đó chỉ là một nắm bụi. Còn nói theo biology thì thân thể mình chỉ là những tế bào, những phân tử sinh học chứ không có gì hết. Về tâm lý thì chỉ là những khoảnh khắc thiện ác buồn vui nối tiếp nhau. Giá trị của mình là do mình tự dựng nên mà thôi. Ví dụ bà con có thấy mình ăn rồi mình son phấn bặm môi, nhíu mày nghiêng qua lắc lại soi gương soi kiếng thấy mình đẹp mình thơm? Tôi nói thiệt, trong room có ai đáng gọi là giai nhân mỹ nữ không tôi không biết, nhưng tôi biết chắc một chuyện, nếu bây giờ có một người đẹp tuyệt thế đi nữa mà chỉ cần họ quên thở trong vòng mười lăm phút là ai cũng ngại chạm tay vào chứ đừng nói cúi xuống mà hôn. Hôn trên trán đã không dám chứ đừng nói là hôn môi hôn miệng. Cái xác mười lăm phút còn nóng đó chứ, nhưng chỉ cần bác sĩ phán đã đi rồi thì đẹp bằng trời đi nữa chạm tay vào bằng ngón út là đã ớn rồi. Điều đó cho thấy rằng thân này là nắm bụi là đúng. Quí vị bắt buộc phải tin thôi, ông nào háo sắc nhất, bà nào mê trai nhất cứ nhớ lời của tôi. Cách đây nửa tiếng đồng hồ mình muốn trên trời là chim liền cánh, dưới đất là cây liền cành đời đời kiếp kiếp, trăm năm hạnh phúc, sắt cầm hòa hợp long phụng hòa minh gì đó, nhưng tắt thở một cái là ba chân bốn cẳng chạy sút dép liệng giày.
Tôi nhớ hồi xửa hồi xưa tôi có đọc một câu chuyện không biết là chuyện cười hay chuyện ma. Bốn anh sinh viên trường y vì một hoàn cảnh sao đó mà được sắp xếp canh một cái xác chờ người dưới quê lên nhận xác. Họ tiêu khiển cho qua thời gian bằng cách đánh bài cho vui. Hai anh ngồi quay vô trong, hai anh ngồi ngó ra ngoài. Đang xóc xóc chia chia, một trong hai anh ngồi ngó vô trong thấy cái xác kia tự nhiên nhúc nhích. Ảnh thấy nhợn rồi. Lát sau ảnh để ý thấy cái xác bật ngồi dậy, cứng đơ. Ảnh viện cớ đi tiểu rồi vọt mất. Sòng bài còn ba người. Một anh lại thấy sao cái xác đứng dậy, ảnh không dám la sợ cả đám vọt mất hết. Ảnh nói, sao thằng kia đi lâu quá không vô, để tao ra tao kiếm nó. Rồi ảnh cũng vọt luôn. Dĩ nhiên, cuối cùng mình biết chuyện gì sẽ xảy ra rồi. Tôi không nhớ đó là chuyện ma hay chuyện cười, chuyện thật hay chuyện xạo. Nhưng điều làm tôi thấm thía cho tới bây giờ, thì ra cái lòng người nó bạc như vậy đó. Thuở nào còn sống mình thương mình mến, mình nhớ nhung, tương tư mong đợi tùm lum. Tới hồi tắt thở một cái rồi là lạnh xương sống. Tôi nói thiệt, tôi cũng có chị, cũng có anh, cũng có mấy huynh đệ trong nhà, tôi thương lắm. Đại sư huynh thứ ba, đại sư huynh thứ tư, sư đệ em ruột của tôi thứ tám thứ chín tôi thương lắm. Đều là tu sĩ hết chứ không phải người đời, nhưng nói thiệt, nhưng tắt thở rồi bắt tôi phải qua đêm trong căn phòng có cái xác của các vị ấy thì tôi cũng hơi nhợn. Anh em thương quá, dĩ nhiên trong hoàn cảnh ngày mai đem thiêu rồi, phút biệt ly thì ráng nấn ná với nhau nhưng nói thiệt với bà con, tối đó cũng nhợn lắm. Hồi nào còn sống thì anh anh em em chứ bây giờ thì lạnh ngắt. Lỡ tối cái xác đó dựng dậy mà không phải mấy vị đó mà là người khác… Tại sao nãy giờ tôi kể chuyện ma tào lao? Là vì tôi muốn nhấn mạnh chữ ‘quán không’. Quán không là vậy đó. Thuở nào là anh ruột em ruột, là bạn trai bạn gái, là chồng là vợ là con là cháu. Chỉ có 15 phút chết lâm sàng, bác sĩ phán đã đi rồi là bắt đầu tình hình đã khác rồi. Ngay lúc còn sống cho tới lúc chết, từ lúc yêu qua lúc sợ chỉ cách nhau có mười lăm phút! Đủ để cho quí vị chán đời chưa? Chưa kể là chết bằng tai nạn, chết không còn toàn thây, máu me tanh tưởi, phân nước tiểu tùm lum. Quán không nghĩa là ở đây không có người nào giận người nào mà là nắm bụi này giận nắm bụi kia.
#SưGiácNguyên giảng

Quán nghiệp



QUÁN NGHIỆP

Một trong năm cách đối phó với tâm hờn giận, thù ghét ai đó là ‘quán nghiệp’.
Quán chiếu rằng việc người đó nói và làm bậy bạ đối với mình đó là nghiệp bất thiện của họ và đó là quả xấu của mình. Mình đừng vì quả xấu này mà tiếp tục tạo thêm nhân xấu mới. Người đang tấn công mình đó là nghiệp xấu của họ, và chuyện mình bị tấn công đó là quả xấu của mình. Họ tạo nhân xấu là vì mình có quả xấu. Bây giờ mình đừng có vì cái quả xấu này mà tiếp tục tạo nhân xấu.
Quán nghiệp là quán rằng mỗi chúng sanh ở đời này dầu muốn dầu không đều phải ra đi một mình, không mang theo được cái gì ngoại trừ một thứ duy nhất đó là nghiệp thiện ác mà mình đã tạo trong thuở bình sinh. Chuyện mình gặp nhau đây chỉ là tạm bợ thôi. Trái đất này chỉ là một hạt cát trôi nổi trong vũ trụ bao la và trăm năm trong kiếp người chỉ là một nháy mắt của dòng chảy thời gian miên viễn bất tuyệt.
Trăm năm qua đi nhanh lắm. Ôn Làng Mai (HT Nhất Hạnh) năm nay đã 93 tuổi. Cách đây hai hôm ngài đã đặt chân xuống Huế. Ngài trở về Từ Hiếu tổ đình. Nghe đâu ngài đã quyết định tĩnh dưỡng tại đó cho đến cuối đời. Phải nói rằng HT đã trải qua 93 năm trong cuộc đời dâu bể đầy những buồn vui vinh nhục. Rồi cuối cùng thì sao? Cuối cùng HT cũng phải rút lui, trở về, nhường lại sân chơi phù du đó cho đàn hậu lai hậu tấn hậu học hậu sinh hậu bối… Ngài cầm lấy cái thiện ác mà ngài đã làm trong cuộc đời này để bắt đầu một cuộc hành trình mới. Nói như vậy có nghĩa rằng là cái chết không phải là dấu chấm hết như là ở vị A-la-hán.
Ở kẻ phàm phu, cái chết chỉ là sự kết thúc của cái cũ và bắt đầu một cái mới. Chúng ta đã nghỉ chơi ở sân ga này và sửa soạn lên tàu để tìm về một sân ga khác, một bến bờ khác, một sân chơi khác, một cảnh giới khác một phương trời khác. Chỉ vậy thôi. Nhớ rằng ở sân ga này chỉ vài phút thôi thì chúng ta cần gì phải đôi co, phải hơn thua phải quấy với người tào lao mình xui mà gặp nhau. Không đáng. Một lát nữa tàu đến. Nó đi về đông mình đi về Tây mà. Còn dịp nào để gặp lại nhau. Trong khi đó, chỉ cần mình phải quấy với nó mình sẽ còn gặp nó dài dài. Nhớ câu này: còn ham phải quấy, còn ham thắng thua thì còn có dịp gặp lại nó. Còn nếu mình cứ nghĩ, không phải khơi khơi mà mình gặp kẻ đó đâu. Cũng là do cái nghiệp xấu nào đó của mình đẩy cho mình gặp đây.
Trong kinh Phật dạy:
“Kẻ thù hại kẻ thù,
oan gia hại oan gia,
không bằng tâm hướng tà
gây ác cho tự thân.”
Nói như vậy có nghĩa rằng không có một kẻ thù nào đáng sợ bằng chính lòng phiền não bất thiện của chính mình hết. Nếu kiếp xưa quí vị công đức đầy tràn thì bây giờ quí vị đã lên chín tầng mây thăm thẳm, làm sao gặp cái thứ tào lao này để nó làm phiền quí vị đây. Cũng do một nghiệp xấu nào đó bây giờ mình mới gặp nó để nó làm phiền mình, nó nói cho mình phiền, nó làm cho mình bực. Như vậy kẻ thù đáng sợ nhất trên đời này chính là bản thân cái phiền não của chúng ta.
Quán nghiệp là quán như vậy đó, không phải ai hại ai, không có ai hại và ai bị hại. Vấn đề ở đây chỉ là chỗ làm việc của các tâm thiện và tâm ác mà thôi. Do có tâm thiện, đời sau sanh ra có được 6 trần như ý. Do có tâm bất thiện nó mới tạo cái nghiệp bất thiện nên đời sau sanh ra gặp 6 trần bất toại. Chỉ đơn giản như vậy.
[Nghiệp ác là sáu căn biết 6 trần bằng tâm xấu, nghiệp thiện là sáu căn biết 6 trần bằng tâm lành. Nghiệp thiện tạo ra 6 trần như ý, nghiệp ác tạo ra 6 trần bất toại. Sáu căn biết 6 trần như ý, là hạnh phúc. Sáu căn biết 6 trần bất toại, là đau khổ.]
#Nhậtkýchépbằngkinh_tập18
#SưGiácNguyên giảng

Thực hành giáo pháp



THỰC HÀNH GIÁO PHÁP

Thực hành theo Giáo Pháp Đức Phật có hai phương pháp chính yếu: Hành Thiền và Tu Tập.
Hành Thiền, chính là Hành Thiền An Chỉ; và Tu Tập tức là thực hành Quán Pháp Tứ Niệm Xứ.
-Với việc Hành Thiền An Chỉ, hành giả phải luôn khắn khít đề mục với Năm Chi Thiền, Tầm Tứ Hỷ Lạc và Nhứt Thống.
-Tu Tập Quán Pháp Tứ Niệm Xứ, hành giả luôn khắn khít vào Thân Thọ Tâm Pháp với Ba Chi Thiền Niệm, Định và Tuệ.
Đang khi Hành Thiền An Chỉ hoặc Tu Tập Quán Pháp Tứ Niệm Xứ, hành giả phải luôn nhận thức có Ba Lực, Lực Thúc Đẩy, Lực Cản và Lực Trì Kéo.
+ Lực Thúc Đẩy hiện bày qua sự nỗ lực của hành giả, phát triển Ngũ Lực và Ngũ Quyền (Tín, Tấn, Niệm, Định và Tuệ) liên tục không ngừng, và điều ngự các Pháp luôn luôn được thăng bằng, không so le, không mạnh yếu.
+Lực Trì Kéo là Năm Pháp Triền Cái (Tham Dục Triền Cái, Sân Độc Triền Cái, Trạo Hối Triền Cái, Hôn Thuỳ Triền Cái và Hoài Nghi Triền Cái), và các Thập Pháp Kiết Sử che án tâm thức của hành giả với đề mục hay đối tượng.
+Lực Cản là Oan Khiên Nghiệp Báo sẽ làm đình đốn việc tu tập của hành giả, cản ngăn hoặc làm gián đoạn việc tu tập. Ví dụ: muốn tu mà lại đổ bệnh, không tu tập được!
Có ba phương thức tu tập, Đối Diện Trực Chiến, Du Kích và Xoa Dịu Hoà Hoãn.
- Khi hành giả khỏe khoắn cả Thân và Tâm thì có thể áp dụng phương thức Đối Diện Trực Chiến để chống lại Lực Cản, hoặc chặn đứng các Pháp nghịch Triền Cái của Lực Trì Kéo.
- Khi hành giả không khỏe, thì áp dụng phương thức Du Kích hoặc Xoa Dịu Hoà Hoãn, qua phương thức Tu Tập Từ Ái.
-Khi hành giả khỏe thì Hành Pháp Ba La Mật. Khi hành giả không khỏe thì Hành Pháp Niệm Xứ.
Hành giả luôn vận dụng hai Pháp Đại Hộ, Niệm và Tỉnh Giác, trong cả hai Hành Thiền An Chỉ và Hành Pháp Quán Tứ Niệm Xứ.
Luôn ghi nhớ:
Tưởng Thủ Uẩn (ảo tưởng, hoang tưởng, vọng tưởng) là kẻ thù của Niệm. Tưởng khởi sinh thì giết chết Pháp Niệm. Hết sức quan trọng!
Và luôn cảnh giác về Pháp Tưởng Thủ Uẩn luôn ngủ ngầm và sẵn sàng khởi sinh một khi hành giả yếu về Niệm Lực hoặc thiếu Tỉnh Giác. Một khi vọng tưởng khởi sinh, hành giả vận dụng Tỉnh Giác để đối diện và vận dụng Niệm Lực để quay trở về đề mục (nếu đang Hành Thiền An Chỉ), hoặc vận dụng Niệm Lực để quán sát Pháp Sinh - Diệt (nếu đang Tu Tập Quán Tứ Niệm Xứ).
Việc hành Thiền An Chỉ hoặc Tu Tập Quán Pháp Tứ Niệm Xứ không đòi hỏi phải nhiều, mà cần phải đều.
Mỗi chặn đường Hành Thiền hoặc Tu Tập, luôn kết hợp với việc phản tỉnh, để trải nghiệm những tiến trình đã trải qua và rút lấy kinh nghiệm.
#SưSánNhiên

Lời cảnh báo cảu vị thiền sư trước khi lâm chung



LỜI CẢNH BÁO CỦA VỊ THIỀN SƯ TRƯỚC KHI LÂM CHUNG

Một vị thiền sư trước khi lâm chung đã bày tỏ sự sám hối về những việc đã từng làm trong suốt cuộc đời của mình, cũng là lời cảnh cáo cho tất cả những người đã và sẽ bước đi trên con đường tu luyện.
Vị thiền sư ấy là một người bạn thâm giao nhiều năm của tôi, mắc phải bệnh nan y, trong thiền định mà đối mặt với cái chết, cũng như tham ngộ về cái chết.
Vốn là bạn tốt của nhau, trước lúc ông qua đời, tôi thường xuyên đến thăm và lắng nghe những lời chỉ bảo từ ông ấy. Mỗi lần tôi đến, thấy ông luôn ngồi ngay ngắn, trên gương mặt tiều tụy luôn mỉm cười.
Chúng tôi ngồi xuống nói chuyện, ông nói:
- “Cả một đời của tôi đắm chìm trong hư danh. Tuy nhìn bề ngoài rất có tiếng tăm, cũng xuất bản sách, cũng có người theo tôi học Phật, nhưng tôi biết rõ, bản thân mình vốn không thật sự giác ngộ, cũng không thấy được chân ngã của mình, bây giờ nghĩ lại mới thấy tưởng thông minh lại bị thông minh hại”.
Tôi nói:
- “Các đấng tôn sư xưa nay, chẳng phải cũng có những người đã đắc Đạo trước lúc lâm chung hay sao?”
Ông nói:
-“Đó là người đại căn khí, buông bỏ vạn duyên, tâm hồn thanh tịnh, không giống loại tiểu căn khí như tôi. Cả đời này của tôi, chính vì rất thông minh, rất có tài, rất có tình, vì vậy mà có quá nhiều thứ không thể buông bỏ được.”
Tôi lại hỏi:
- “Thế ông gần đây tu luyện thế nào vậy? Mỗi lần tôi tới, đều thấy ông đang ngồi thiền, tôi cũng không đành lòng quấy rầy ông, chỉ đứng ở bên ngoài niệm Phật, cầu nguyện cho ông!”
Thiền sư cười nhạt một tiếng, nói:
-“Cảm ơn ông! Về chuyện sinh tử, khi nào chết, thậm chí kiếp sau đầu thai nơi nào, tôi đều đã biết được”.
Tôi nói:
- “Thế chẳng phải là ông đã tu được rất cao rồi sao, ông đã biết được khi nào sẽ chết, đầu thai nơi nào, vậy mà còn chưa khai ngộ sao?”
Thiền sư có chút hổ thẹn nói:
- “Đấy chỉ là chút bản sự cỏn con, không có chút quan hệ gì với khai ngộ cả, càng không có quan hệ với việc tìm được chân ngã của mình. Từ khi 3 tuổi, tôi đã có thể nhớ lại nhân duyên đầu thai của mình. Đời này của tôi từ sớm đã biết rõ bản thân ‘sống đến từ đâu’, một đời tu hành chỉ là muốn biết được ‘chết đi về đâu’.
Bây giờ có thể biết rõ ngày chết, cũng biết sau khi chết sẽ đi về đâu, chẳng qua vẫn là luân hồi làm chúng sinh trong Tam giới. Cái kiểu tu hành qua loa này nếu đem so với việc đắc Đạo hoặc khai ngộ hoặc tìm lại được chân ngã của mình thì hãy còn xa lắm”.
Tôi hỏi:
-“Vậy sao gần đây ông tinh tấn tu hành vậy?”
Thiền sư nói:
- “Một lòng sám hối những nghiệp chướng đó, tịnh hóa từ trong tâm. Tôi là một người sắp chết, mong sao trước khi chết, thanh lọc nội tâm mình, mấy tháng nay tôi không ngừng sám hối.
Tôi sám hối cho những nghiệp chướng tôi đã tạo ra, sám hối cho những việc làm sai trái mà tôi đã phạm phải. Sám hối bản thân mình đã không tận hiếu thật sự, sám hối bản thân mình đã làm tổn thương người thân bạn bè, sám hối bản thân đã từng nói rất nhiều lời ngông cuồng, sám hối bản thân đã từng miệng nói một đằng, tâm nghĩ một nẻo, sám hối vì tôi đã làm tổn thương về tâm hồn đối với những cô gái đã từng yêu tôi, sám hối những lời dối trá đối với đồng tu…”.
Thiền sư đã nói nhiều sự tình cần phải sám hối như vậy, lúc nói ông còn chảy nước mắt. Ông nói với tôi:
-“Một người, trước khi lâm chung mà thành tâm sám hối, chính là buông bỏ gánh nặng, nhẹ nhàng mà lên đường”. Nói đến câu này, ông nở nụ cười. Ai cũng biết “lên đường” là có ý gì.
Ông muốn tôi tìm một cái thau bằng sắt thật lớn rồi mang những bản thảo trong suốt một đời của ông, cao chừng 1 mét, đốt trước mặt ông.
Giúp ông đốt bỏ ư? Tôi không đành lòng, nói:
-“Đây vốn là tâm huyết cả đời của ông, có bao nhiêu nhà xuất bản muốn mua bản thảo của ông, cớ sao lại muốn đốt bỏ chứ? Không phải rất tốt sao?” Tôi quả thực không muốn đốt.
Ông nói:
-“Ông không đốt, vậy thì tôi tự mình đốt. Những thứ này không có giá trị gì hết, không đốt bỏ đi thì dùng để làm gì? Tôi không đắc Đạo, những lời giải thích loạn bậy Phật Pháp kia, suy cho cùng đều chỉ là ma chướng, bản thân tôi vốn biết rất rõ.
Đốt bỏ những bản thảo này để tránh dẫn thế hệ sau lầm đường lạc lối, cũng là để tránh tăng thêm tội lỗi của tôi. Bản thân không có tìm được chân ngã của mình, thì hết thảy những gì mình nói ra thảy đều là “chồn cáo hoang”, ông muốn tôi bị sa vào địa ngục sao?”
Ông trầm tĩnh nói:
-“Tôi cả đời thuyết Pháp giảng Kinh, biện luận thị phi, bởi vì không đắc Đạo, không thấy được chân tướng, nói những lời lộng ngôn cùng những luận giải bất chính, giờ đây, báo ứng tại thân, mắc bệnh tại khoang miệng, thực quản, dạ dày”.
Mặt của ông càng ngày càng gầy gò, bởi vì ngồi thiền nên tinh thần vẫn còn đỡ một chút. Tôi cùng với ông đốt từng quyển từng quyển sách một, gồm cả nhật ký của ông, khá nhiều được dùng bút lông ghi, chữ viết vô cùng ngay ngắn.
Nhìn dáng vẻ điềm tĩnh và thoát tục của ông tôi rất cảm động, cũng muốn trước khi tôi chết, sẽ giống như ông, đốt hết tất cả nhật ký, bản thảo của mình không lưu giữ những thứ tạp nham, hoàn toàn sạch sẽ, không một chút lo lắng mà rời đi. Tâm tư của tôi vừa động, ông cười, nói:
- “Đừng học theo tôi, học tôi không có tiền đồ gì cả”.
Nhiều lần tôi đến, thiền sư đều nói là đang sám hối nghiệp chướng, sám hối tội lỗi trong quá khứ, ông nói với tôi:
-“Khẩu nghiệp là điều khó sám hối nhất, trong một đời này, tôi giảng Kinh thuyết Pháp, miệng nói ra những lời xằng bậy, nói những điều không phải về người khác, khẩu nghiệp chất cao như núi”.
Ông thở dài:
-“Cho dù khẩu nghiệp sâu nặng, tôi vẫn là muốn sám hối cho hết để cái chết được thanh thản. Xem ra, tôi còn phải chết muộn hơn một tháng so với dự tính trước đó, một tháng này chuyên dùng vào việc sám hối khẩu nghiệp. Những người tu Đạo học Phật chỉ nói thôi cũng là tạo nghiệp, huống chi tôi tạo khẩu nghiệp, nói lời không phải, tranh giành đúng sai, nói chuyện không chính đáng, không biết một tháng này có đủ để sám hối không. Chờ tôi sám hối xong rồi, chính là ngày mà tôi sẽ rời đi”.
Ông vừa là người bạn, vừa là người thầy trong nhiều năm của tôi nên tôi rất buồn, hỏi ông:
- “Ông phải đi rồi, ông có lời khuyên hay cảnh cáo sau cùng gì dành cho tôi không?”
Thiền sư nói:
- “Tôi biết con đường tương lai của ông, nhưng không thể nói ra được, nếu như nói ra thì chính là hại ông vậy. Con đường tương lai ở trong lòng của ông, nếu như vào mỗi buổi tối ông có thể tĩnh tọa nhìn vào trong tâm mình thì cũng sẽ biết được thôi.
Kinh nghiệm trong một đời này của tôi, có thể nói cho ông hay, chính là: Nếu như bản thân không có đắc Đạo, không có khai ngộ, không có thấy được chân ngã của mình thì quyết không được làm thầy người ta. Làm thầy người ta thì sẽ hại người ta, dẫn người ta đi sai lệch thì cũng chính là làm hại sinh mệnh người đó, quả báo thật nặng nề, báo ứng của tôi chính ở trước mắt ông đây, vì vậy, [quyết không được làm thầy người ta.]
Thứ hai, nếu như ông đã khai ngộ, tìm lại được chân ngã của mình rồi, thì vẫn cần phải giữ vững chuyện tu hành. Sau khi tu được cao rồi thì mới bước ra hoằng dương Phật Pháp, dẫu cho ông đã có đệ tử, thì cũng hãy nhớ [đừng nên tiếp nhận cúng dường], quyết không được ngược đãi đệ tử, những chuyện trong chốn này tôi đã thấy nhiều rồi, rất nhiều người [làm thầy sai khiến đệ tử giống như là đầy tớ] vậy, tội ấy rất nặng.
Thứ ba, [chớ coi thường bất kỳ người nào không hiểu Phật Pháp], dẫu cho hiểu biết của họ còn non nớt, sai lệch đi nữa thì cũng đều không thể cười nhạo người ta. Tôi trong suốt một đời này đã cười nhạo rất nhiều người có kiến giải sai lệch, kết quả bản thân đã gặp phải báo ứng. Mỗi một người chưa khai ngộ đều có thể là một vị Phật trong tương lai, một khi đã khai ngộ thì chính là Giác giả, ông há có thể cười nhạo Giác giả được? Đạo lý này tôi hiểu, nhưng cái thói xấu xa, bản tính kiêu ngạo dẫn dắt đã rước lấy không ít nghiệp chướng cho mình, hết thảy những gì sám hối trong một tháng gần đây chính là sám hối tội lỗi với những người mà tôi đã từng xem thường trước đây.
Thứ tư, sau này nếu như ông có gặp người khác, cho dù là các đấng tôn sư ngoại đạo đi nữa thì cũng không nên so sánh rằng ai cao ai thấp. [Tại cõi người này có vô số Bồ Tát hóa thân dạy bảo người ta, ngoại đạo lẽ nào không có được Bồ Tát giáo hóa chăng?] Không nên mang theo cái tâm phân biệt và thành kiến. Ông hãy một lòng lắng nghe, nhìn vào bên trong mình, trí huệ bên trong sẽ tự sinh ra, sinh mãi không ngừng. Bản thân tôi trước đây rất thích tranh luận, rất thích tranh đấu với người ta, lấy ngòi bút làm vũ khí, kết quả bản thân mắc phải ung thư vòm họng, ung thư thực quản, tội nghiệp quả thật là sâu nặng thay”.
Miệng ông đang nói, còn nước mắt thì không ngừng rơi, đó chính là những giọt nước mắt ân hận, giọt nước mắt thức tỉnh, cũng là những giọt nước mắt khuyên răn. Ông nhìn tôi: “Đã nhớ chưa?”. Tôi nói: “Nhớ rồi”.
Trong mười năm nay tôi cũng có một chút hư danh, đôi lúc cũng có một số người tìm đến bái tôi làm thầy, tôi nhớ kỹ lời dạy của thiền sư, trước giờ chưa từng nhận qua đồ đệ. Có người quỳ xuống dập đầu bái lạy tôi, tôi cũng vội vàng quỳ xuống dập đầu bái lạy lại. Đây đều là những lời dạy bảo của thiền sư ấy.
Một tháng sau, ông nói:
-“Tôi phải đi rồi, vẫn là chuyển sinh ở vùng Tây Bắc, vùng đó tuy nghèo, nhưng con người thật thà chất phác, gốc rễ của tâm linh Phật, Đạo rất sâu, không giống như người Giang Nam, dùng Phật, Đạo để kiếm tiền, cũng không giống như những người Đông Bắc, thực chất bên trong vốn không hề tôn kính Phật. Tôi chuyển sinh vào vùng Tây Bắc, nếu như hai anh em chúng ta có duyên, ba mươi năm sau, còn có thể gặp lại, khi ấy ông là anh cả, tôi là em trai, ông cần phải giúp tôi đấy nhé!”
Chúng tôi đều cười. Tôi nói:
-“Khi tôi học thiền với ông không có thăng tiến, ông đã từng đá tôi, lúc đó cũng là lúc tôi phải đá lại ông rồi”.
Ông nói:
-“Nếu được thì hãy cứ đá mạnh một chút, mong sao dưới một cú đá này, tôi sẽ khai ngộ ngay lúc đó”.
Ông thật sự đã ra đi vào đúng cái ngày ông nhận định, nhục thể được hỏa táng. Tôi lấy một chút tro cốt của ông mang theo lúc chuyển nhà. Có một năm, tôi phát hiện cái cây mọc ngoài cửa sổ lại chính là cây hải đường, cây thu hải đường, lúc này mới đột nhiên nhớ lại bài thơ trước lúc lâm chung của ông:
“Hải đường phong quá thiền hồn hương,
mênh mông thanh thiên thị cố hương.
Trở lại cầu Đạo, Đạo còn đâu?
An khang phúc thọ chẳng mong cầu.”
Tôi bỗng nhiên ngộ ra, liền đem số tro cốt của ông rải xuống dưới cây hải đường bên ngoài cửa sổ. Trước đây chỗ đó vốn có cây thông, trồng được hai năm, do công việc của tiểu khu nên đã dời chuyển cây thông đi chỗ khác, trồng cây hải đường vào đó.
Được khoảng 5 năm, vào mùa hè, hải đường rậm lá, có vô số ve sầu ca hát dưới tán lá. Vào cuối thu, hoa hải đường đỏ chói, tiếng ve kêu dừng hẳn, ban đêm lại yên ắng đến lạ thường, yên ắng đến nỗi khiến người ta cảm thấy không quen với những đêm không có tiếng ve sầu, “tiếng ve ồn ào rừng muốn tĩnh, chim kêu đồi núi càng âm u”.
Người ta thường coi “phúc, thọ, an, khang, chết già” là năm cái phúc của đời người, vị thiền sư đó không cầu năm điều phúc ấy của nhân gian, mà chỉ cầu đại Đạo.
Ông ấy hiển lộ ra điều thần kì khi đoán trước nơi ở sau này của tôi, tro cốt của ông ấy sẽ thấm vào các nhánh cây hải đường. Ông nói những thứ này đều là vô thường cả, còn cách đại Đạo, cách chân ngã của sinh mệnh rất xa. Ngay đến cả tu hành như ông ấy vẫn còn chưa có thoát khỏi sinh tử, chưa có khai ngộ, chưa có tìm được chân ngã của sinh mệnh bản thân mình.
Khi viết bài này, thiền sư ấy đã viên tịch hơn mười năm rồi, nghĩ về chuyện tu hành của bản thân thì thật không khỏi cảm thấy xấu hổ. Vị thiền sư đó là ai vậy? Tôi không muốn nói ra tên của ông ấy, ông ấy đã đốt bỏ toàn bộ bản thảo của mình thì cũng tức là không muốn ai nhớ đến ông ấy nữa. Tôi tin tưởng rằng sẽ có một ngày, tôi sẽ gặp lại ông ấy giữa biển người mênh mông.
Hoàng Sâm -
(dịch từ Kannewyork)

Thứ Tư, 10 tháng 3, 2021

Sự liên hệ giữa Vi diệu pháp và Thiền quán



Đạo Phật từ xa xưa cho đến ngày nay đã giới thiệu những lời dạy của Đức Phật, bao gồm Pháp học và Pháp hành, giúp mọi người thấy được bản chất thật của các pháp cũng như những sự việc diễn ra hằng ngày trong cuộc sống của mình, để người thực tập có thể sống hạnh phúc và giữ được tâm bình an giữa những thăng trầm của cuộc sống. Những lời dạy trong kinh điển giúp mọi người thấy được đặc tính thật của sự vật hay bản chất thật của các pháp, thấy được sự vận hành của tâm và các yếu tố vật chất ngay trong chính bản thân mình được gọi là Vi Diệu Pháp, tiếng Pāli là Abhidhamma; và phương pháp tu tập dựa trên những lời dạy ấygiúp cho nội tâm được an tịnh chính là Thiền, đặc biệt là Thiền quán, tiếng Pāli là Vipassanā. Do vậy, nếu chỉ học Vi Diệu Pháp mà không hành thì sẽ không trải nghiệm được sự vận hành của các pháp trong thân và ngoài thân chúng ta, và nếu chỉ hành thiền mà không biết gì về Vi Diệu Pháp, hành giả có thể gặp trở ngại trong pháp hành. Luận sư Buddhaghosa trong bộ Thanh Tịnh Đạo khẳng định: “Lý thuyết toát yếu của Vi Diệu Pháp chính là sự chuẩn bị cho pháp hành thiền Vipassanā”.[1]

Sơ nét về Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)

Trong Tam tạng kinh điển của đạo Phật (Kinh, Luật, Luận), tạng Luận được xem là bộ luận sắp xếp có hệ thống và giải thích chi tiết hơn so với tạng Kinh và Luật, vì vậy tạng Luận được gọi là Pháp vi diệu, là Pháp cao tột, hay Vi Diệu Pháp. Khi nói Vi Diệu Pháp hơn hẳn Kinh và Luật, điều này không có nghĩa là Kinh và Luật không bằng Vi Diệu Pháp hay Vi Diệu Pháp nói đến điều gì mới lạ mà trong Kinh và Luật chưa được nói đến. Hòa Thượng Sīlananda trong một buổi giảng về Vi Diệu Pháp[2] dạy rằng: Kinh, Luật và Luận đều là lời dạy của Đức Phật, tất cả đều là phương pháp giúp mọi người thoát khỏi khổ đau, đạt được sự giác ngộ giải thoát, nên không thể nói bộ tạng này hơn bộ tạng kia. Cái khác ở đây là khác về phương pháp diễn giải, chứ không khác về nội dung. Cùng một vấn đề nhưng cách trình bày của Đức Phật khác nhau. Trong Vi Diệu Pháp, Đức Phật giải thích vấn đề chi tiết hơn, Ngài liên hệ đến Pháp chân đế nhiều hơn, và không dùng những danh từ chế định, những giới điều, những bổn phận, trách nhiệm như đã nói trong Kinh. Do vậy, học Vi Diệu Pháp giúp chúng ta dễ dàng thấy được thực tánh của các Pháp (luôn biến đổi, do biến đổi nên đưa đến khổ đau, và do biến đổi nên không thể yêu cầu nó như thế này hay như thế kia). Thấy được thực tánh Pháp là thấy được con đường giải thoát giác ngộ, Đức Phật từng dạy: “Ai thấy Pháp là thấy Như Lai”. Lấy ví dụ, cùng một vấn đề là giáo lý Năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật dạy về Năm uẩn chỉ vỏn vẹn trong một trang giấy; nhưng trong Bộ Phân tích (bộ luận thứ hai trong bảy bộ luận của Vi Diệu Pháp), giáo lý Năm uẩn được Đức Phật giải thích trong 68 trang giấy. Đây là lý do vì sao Vi Diệu Pháp được xem là Pháp cao tột, là Pháp vi diệu, là bộ Luận giải thích chi tiết hơn và hệ thống hơn so với tạng Kinh và Luật.

Theo Chú giải Vi Diệu Pháp (Atthasālinī),[3] để tỏ lòng tri ân từ mẫu, tức hoàng hậu Maya đã qua đời và tái sanh đến cung trời Đâu-suất (Tusita), vào mùa An cư thứ bảy sau ngày thành đạo, Ðức Phật đã đến cung trời Đao-lợi(Tāvatiṃsa)để giảng Vi Diệu Pháp cho vị chư Thiên trước kia là mẹ của Ngài cùng với các chư Thiên khác tại cõi trời trong suốt ba tháng mùa mưa. Trong khoảng thời gian ấy, cứ mỗi buổi sáng Đức Phật dùng thần thông biến hiện ra một Đức Phật khác giống y như Ngài, ngồi ở vị trí của Ngài tiếp tục thuyết pháp cho chư Thiên, còn Ngài rời cung trời Đao-lợi trở lại nhân gian, đến bên bờ hồ Anotatta để tắm và sau đó đi khất thực tại vùng Uttarakuru. Sau khi dùng trưa xong, Đức Phật đến ngồi dưới một tàng đại thọ bên bờ hồ Anotatta để nghỉ trưa. Lúc đó, Tôn giả Xá-lợi-phất đã đến và dâng nước cúng dường Đức Phật và ngồi sang một bên. Nhân dịp ấy, Đức Phật đã nói lại (một cách tóm lược) cho Tôn giả Xá-lợi-phất nghe những gì Ngài đã dạy ở cõi trời Đao-lợi. Tôn giả Xá-lợi-phật đã tiếp nhận giáo lý Vi Diệu Pháp từ Đức Phật và sau đó Tôn giả dạy lại cho những vị Tăng đệ tử. Kể từ ngày ấy, Vi Diệu Pháp được truyền bá ở thế gian.

Giáo lý Vi Diệu Pháp giải thích hai pháp chính yếu là Tục đế (Paññatti) và Chân đế (Paramattha), nhưng đặc biệt nhấn mạnh pháp Chân đế. Thế nên, trong bảybộ Luận Vi Diệu Pháp có đến sáu bộ liên hệ đến pháp Chân đế, và chỉ có một bộ duy nhất liên hệ đến pháp Tục đế, đó là Bộ Nhân Chế Định (Puggalapaññatti). Theo Vi Diệu Pháp, pháp Chân đế được chia thành bốn loại là: Tâm (citta), Tâm sở (cetasika), Sắc pháp (rūpa), và Niết-bàn (Nibbāna). Nếu nói gọn thì có hai pháp chính yếu được giải thích trong Vi Diệu Pháp, đó là, phần tinh thần gọi là Danh (nāma) gồm có Tâm và Tâm sở, và phần vật chất gọi là Sắc (rūpa). Đây là hai yếu tố tâm vật lý tạo nên cơ thể con người cũng như muôn vật hữu tình.

Theo Tỳ kheo Bodhi, Tâm được liệt kê đầu tiên trong bốn pháp Chân đế vì tâm là yếu tố cơ bản để nhận biết mọi cảnh vật (đối tượng).[4] Hơn nữa, tất cả các nghiệp thiện hay bất thiện tạo nên trong đời đều là kết quả của tâm. Hai bài kệ đầu tiên trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:“Tâm dẫn đầu các pháp; tâm là chủ, tâm tạo tác; nếu nói hay làm với tâm bất thiện; đau khổ sẽ theo liền với ta như bánh xe lăn theo dấu chân con vật kéo. Trái lại, nếu nói hay làm với tâm trong sạch: hạnh phúc sẽ theo liền với ta như bóng không bao giờ rời hình”. [5] Đặc tính của Tâm là nhận biết đối tượng và chỉ đơn thuần là nhận biết mà thôi chứ không khen hay chê, không bình luận, cũng không chỉ trích. Các nhà Chú giải định nghĩa: “Nó được gọi là tâm bởi vì nó nhận biết đối tượng”.[6] Lần nọ, vua Mi-lan-đà hỏi Tỳ kheo Na-tiên: “Kính bạch Đại đức, thế nào gọi là tâm?” Ngài Na-tiên đáp: “Tâm là hành động nhận biết đối tượng”, và Ngài Na-tiên đưa ra một ví dụ về người gác cổng thành. Mỗi ngày, người gác cổng cứ ngồi ở cửa thành thấy mọi người đi vào ra thành, có người đến từ hướng Đông, người đến từ hướng Tây, hướng Nam, ... Bất cứ nơi nào họ đến, anh ta đều nhận biết, anh ta cũng nhận biết âm thanh, mùi, vị, v.v.... Nhưng chỉ đơn thuần nhận biết mà thôi; anh ta không nhận xét là người này cao, người kia thấp, cũng không phân biệt đây là tiếng động của người, của xe; mùi này dễ chịu, mùi kia khó chịu... Hành động nhận biết đối tượng như vậy gọi là tâm, thưa đức vua”.[7] Tâm chỉ có một là nhận biết đối tượng, nhưng tùy theo cảnh giới tâm sanh khởi như cõi Dục, cõi Sắc hay Vô sắc; tùy theo chủng loại là thiện, bất thiện, tâm quả hay tâm hành, mà tâm được chia thành 89 hay 121 loại.

Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác, nhưng tâm không bao giờ sanh khởi một mình. Bất cứ khi nào tâm sanh khởi luôn có các Tâm sở tương ưng cùng sanh khởi, có thể là Tâm sở thiện, có thể là Tâm sở bất thiện, và chính các Tâm sở này mà tâm được gọi là tâm tham hay tâm rộng lượng, tâm sân hay tâm từ bi, v.v... Luận sư Buddhaghosa so sánh tâm ví như vua và tâm sở ví như những người tùy tùng. Vua không bao giờ đi một mình, lúc nào cũng phải có đoàn tùy tùng đi theo.[8] Khi tâm sanh luôn có các tâm sở sanh cùng, nói cách khác là Tâm sở luôn luôn sanh khởi cùng với tâm, chúng không bao giờ sanh khởi riêng lẽ. Luận sư Anurudha định nghĩa: “Tâm sở được gọi như vậy vì chúng có 4 đặc tính: sanh cùng lúc với tâm, diệt cùng lúc với tâm, có cùng đối tượng với tâm, và sanh cùng một chỗ (căn) với tâm”.[9] Hòa thượng Sīlananda giải thích thêm: “Tâm sở luôn tùy thuộc vào tâm, chỉ khi nào tâm sanh thì tâm sở mới sanh, nếu không có tâm thì tâm sở không thể sanh khởi”.[10] Tâm sở có tất cả 52 loại, chia thành 4 nhóm chính: 7 Biến hành, 6 Biệt cảnh, 14 Tâm sở bất thiện, và 25 Tâm sở tịnh hảo.

Sắc pháp là yếu tố vật lý tạo nên cơ thể con người cũng như muôn vật hữu hình. Nói về sắc, Chú giải Bộ Pháp Tụ định nghĩa: “Sắc là những gì bị thay đổi hình dáng do ảnh hưởng của những điều kiện xung quanh”.[11] Trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật đặt ra câu hỏi và rồi Ngài tự trả lời: “Này các đệ tử, tại sao gọi là sắc pháp? Nó được gọi là sắc pháp bởi vì nó thay đổi. Thay đổi bởi cái gì? Thay đổi bởi lạnh, bởi nóng, bởi đói, khát, bởi ruồi, muỗi, gió, sương, v.v”...[12] Thật vậy, cơ thể vật chất của chúng ta luôn luôn thay đổi, mùa đông lạnh lẽo da dẻ khô cằn, tay chân nứt nẻ; mùa hạ khí trời oi bức, mồ hôi nhễ nhại, thân thể mệt mỏi; mùa thu mát mẻ, trong người khoan khoái dễ chịu; người ăn đủ chất thì da dẻ hồng hào; người không đủ ăn thì da nhăn, mặt ốm, tiều tụy xanh xao; v.v... Cơ thể mỗi con người luôn thay đổi như vậy và chính vì nó thay đổi nên được gọi là sắc. Tâm chúng ta cũng thay đổi, thậm chí thay đổi còn nhanh hơn sắc, nên có câu “Tâm viên, ý mã”, nhưng tâm không được gọi là sắc vì sự thay đổi của tâm rất vi tế, mắt thường không thể thấy biết được. Chỉ những sự thay đổi nào rõ ràng, mắt thường chúng ta có thể thấy biết được thì mới gọi là sắc. Theo Vi Diệu Pháp, sắc được chia thành 28 loại như đất, nước, gió, lửa, v.v...; theo Kinh Tạng, có 32 loại là tóc, lông, răng, móng, da, thịt, v.v...

Vi Diệu Pháp giải thích rõ ràng về các yếu tố tinh thần và vật chất ngay trong chính bản thân của mỗi chúng ta cũng như mọi người quanh mình. Kiến thức này giúp người học đạo có được sự hiểu biết sâu sắc về danh và sắc và trợ duyên cho niệm, định và tuệ phát triển, những chi pháp rất hữu dụng cho hành giả trong pháp hành Thiền quán.

Tóm lược về Thiền quán (Vipassanā)

Thiền quán, tiếng Pāli là Vipassanā, là một trong hai pháp Thiền căn bản của Phật giáo (Thiền định và Thiền quán). Theo từ nguyên học, ‘Vi’ nghĩa là ‘đặc biệt’ hay ‘nhiều cách khác nhau’, và ‘passanā’ bắt nguồn từ căn √dis, nghĩa là ‘thấy’; như vậy ‘Vipassanā’ nghĩa là ‘thấy một cách đặc biệt’ hay ‘thấy trong nhiều cách khác nhau’.[13] Luận sư Buddhaghosa trong Chú giải bộ Pháp Tụ giải thích rõ hơn: “Thấy một cách đặc biệt hay thấy trong nhiều cách khác nhau, có nghĩa là thấy sự vật là vô thường, là khổ và vô ngã. Điều này cũng được hiểu là thấy sự vật như chúng thật sự là”.[14] Thấy ở đây không có nghĩa là thấy bằng mắt thịt của chúng ta mà là thấy bằng mắt tuệ, thấy qua kinh nghiệm tu tập Thiền quán.

Theo Thiền quán, tất cả mọi sự vật trong thân và ngoài thân của chúng ta đều là đối tượng của Thiền quán, nhưng để cho hành giả dễ dàng nắm bắt đối tượng nên trong Kinh Tứ Niệm Xứ, bài Kinh quan trọng nhất cho pháp hành Thiền,[15]Đức Phật trình bày bốn đối tượng chính là: niệm Thân, niệm Thọ, niệm Tâm và niệm Pháp. Tại Miến Điện, các vị Thiền sư lại chia nhỏ ra và lập thành các trường phái khác nhau như có thiền viện chuyên niệm Thân, có thiền viện chuyện niệm Thọ, có thiền viện chuyên niệm Tâm, và có thiền viện chuyên niệm Pháp. Điều này giúp người thực hành dễ dàng tập trung vào đối tượng đã được chỉ định hoặc là Thân, là Thọ, là Tâm, hay là Pháp, nhưng nếu người hành thiền không nắm bắt được lý thuyết một cách rốt ráo có thể dẫn đến hiểu lầm là bốn đối tượng trên không liên hệ gì đến nhau. Thật sự, thân, thọ, tâm hay pháp đều hiện hữu ngay nơi thân của chúng ta, cái này liên hệ đến cái kia, trong niệm Thân có niệm Thọ, Tâm và Pháp; trong niệm Tâm có cũng có niệm Thân, Thọ và Pháp; cũng như vậy với hai pháp còn lại.

Trong Thiền quán có ba yếu tố không thể thiếu là tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác; nói theo từ ngữ thông thường là thận trọng, chú tâm, quan sát. Nếu bất cứ lúc nào chúng ta cũng đối cảnh với thái độ thận trọng, chú tâm, quan sát, tức là chúng ta đã thực hành Thiền quán Vipassanā. Điều quan trọng không phải hành thiền là để tìm kiếm một cái gì mới mẻ trong thân hay ngoài thân chúng ta, cũng không phải hành để đạt được một cái gì đó,mà hành thiền là để tự mình kinh nghiệm được bản chất thật của các pháp, từ đó giúp mình xả bỏ dần những phiền não tham sân si. Nên hành thiền không phải là đạt được mà là bỏ bớt đi. Muốn được vậy, chúng ta cần phải thận trọng, chú tâm, quan sát mọi sự vật xảy ra quanh mình, hãy làm nhiệm vụ của người gác cổng thành, chỉ nhìn mà thôi, đừng đem tự ngã vào rồi nhận xét, phán đoán. Nếu không như vậy, thay vì tu tập để bỏ đi bản ngã, chúng ta lại thấy có một cái bản ngã đang bỏ tham, sân, si,...



Sự liên hệ giữa Vi Diệu Pháp và Thiền quán

Vi Diệu Pháp được xem như là hệ thống tâm-vật lý học Phật giáo vì giải thích hai pháp chính yếu cấu tạo nên một chúng sanh, đó là Danh (nāma) và Sắc (rūpa). Danh là phần tinh thần gồm có tâm và tâm sở, sắc là phần vật chất tạo nên cơ thể vật lý của con người. Trong khi đó, Thiền quán là cách tu tập tâm, rèn luyện tâm để tự mìnhkinh nghiệm được sự vận hành của thân và tâm. Nói cách khác, với kiến thức Vi Diệu Pháp chúng ta có thể hiểu được đặc tính củaDanh và Sắc, và bằng cách thực hành Thiền quán chúng ta có thể tự mình kinh nghiệm được những đặc tính ấy. Vì vậy, nếu hiểu rõ Danh và Sắc sẽ rất hữu dụng cho hành giả trong việc thực hành Thiền quán. Sự liên hệ giữa Vi Diệu Pháp và Thiền quán đã được Đức Phật và các vị Tổ Sư nói đến trong Kinh và Luận, như Kinh Tứ Niệm Xứ dạy quán niệm về Thân, Thọ, Tâm và Pháp. Thân chính là phần vật chất hay Sắc theo Vi Diệu Pháp; và thọ, tâm, pháp chính là yếu tố tinh thần, cũng gọi là Danh. Như vậy, bốn đề mục quán niệm trong Thiền quán không tách rời khỏi Danh và Sắc, hai yếu tố chính được Vi Diệu Pháp phân tích, giải thích rất chi tiết và hệ thống. Do sự giải thích rõ ràng này, Vi Diệu Pháp được dùng như là một công trình nghiên cứu những kinh nghiệm trong pháp hành Thiền quán Vipassanā. Hòa thượng Nandamāla khẳng định: “Kiến thức Vi Diệu Pháp rất quan trọng vì Vi Diệu Pháp nói về chính con người của chúng ta, nếu không biết Vi Diệu Pháp chúng ta sẽ khó mà hiểu được con người thật của chính mình”.[16]

Có người không hiểu, nghĩ rằng Vi Diệu Pháp chỉ đề cập đến những lý thuyết khô khan, khó hiểu, xa rời thực tế, không liên hệ gì đến pháp hành, nên họ không quan tâm, không học hỏi. Do thiếu kiến thức Vi Diệu Pháp nên có một số hành giả không hiểu rốt ráo pháp hành, thay vì tinh tấn chánh niệm để thấy thật tánh của pháp, họ lại cố gắng tìm kiếm một cái gì đó, một số người lại thấy danh sắc theo sự tưởng tượng của mình hay là thấy do hoang tưởng (một dạng của bịnh tâm thần), vì vậy họ chẳng những hành sai mà còn mất rất nhiều thời gian. Thật ra, kiến thức Vi Diệu Pháp không phải là những lý thuyết suông, mà là những kiến thức thực tế giúp hành giả điều chỉnh lại những nhận thức sai lầm về thân và tâm. Hòa thượng Nārada khẳng định: “Vi Diệu Pháp không chủ trương trình bày một kiến thức có hệ thống về tâm và vật chất, mà phân tích hai yếu tố hỗn hợp tạo nên một chúng sanh, qua đó giúp chúng ta thấu triệt được thật tướng của các pháp. Dựa trên nền tảng kiến thức ấy, một hệ thống luân lý đạo đức được triển khai nhằm đạt được mục tiêu cứu cánh, đó là sự giác ngộ giải thoát”.[17] Thế nên, nếu chúng ta có kiến thức Vi Diệu Pháp, hiểu được đặc tính của thân và tâm một cách rõ ràng, khi áp dụng vào sự tu tập,chúng ta giống như người có bản đồ hay la bàn trong tay, chúng ta sẽ không bị lạc phương hướng và cũng sẽ không mất nhiều thời gian, từng bước từng bước đi trên đạo lộ giải thoát giác ngộ.

Tỳ kheo Nyanaponika trong quyển Nghiên cứu về Vi Diệu Pháp đã trình bày sự liên hệ giữa Vi Diệu Pháp và Thiền quán. Ngài chỉ ra sự cần thiết của Vi Diệu Pháp đối với pháp hành thiền. Theo Ngài, hai chủ đề này phải được thực hành song song với nhau, bởi vì kiến thức Vi Diệu Pháp giúp hành giả hiểu rõ hơn những gì mình đang thực hành, giúp điều chỉnh những nhận thức sai lầm; và Thiền quán, ngược lại, chuyển đổi những kiến thức sách vở ấy thành những kinh nghiệm sống, làm cho kiến thức Vi Diệu Pháp trở nên thực tế và hữu dụng.[18]Ví dụ, với kiến thức Vi Diệu Pháp chúng ta hiểu được con người chỉ là sự kết hợp của hai yếu tố vật chất (Sắc) và tinh thần (Danh); kiến thức này cộng với ba nguyên lý cơ bản trong Thiền quán là thận trọng, chú tâm, quan sát, khi nhìn một người chúng ta sẽ không nhận xét người đó là cao hay thấp, mập hay ốm, tốt hay xấu,... mà chỉ biết người đó là sự kết hợp của Danh và Sắc. Chính cái thấy biết này giúp chúng ta dứt trừ được tâm luyến ái, dính mắc vào người đó; nếu người đó có làm điều gì không phải, chúng ta cũng có thể dễ dàng tha thứ; và khi nhìn vào bản thân mình, chúng ta biết mình cũng chỉ là sự kết hợp của hai yếu tố vật chất và tinh thần nên giảm nhẹ được bản ngã, ít chú trọng đến địa vị, đến danh vọng, v.v...

Lời kết

Cuộc sống là một chuỗi dài những được mất, hơn thua, thành bại, nhục vinh,... Nếu không thể áp dụng những lời Phật dạy vào trong cuộc sống hằng ngày thì tâm của chúng ta cứ mãi dao động, xuống lên theo chuỗi thăng trầm của cuộc sống. Khi gặp cảnh thích ý vừa lòng thì tâmchúng ta hân hoan sung sướng, nhưng khi đối diện với những trái ý nghịch lòng thì tâm trạng chúng ta chán nản, buồn bực, thất vọng rồi khổ đau. Sự việc cứ đến đi, chúng ta không thể can thiệp vào sự vận hành của pháp, điều chúng ta có thể làm được là thay đổi thái độ sống của mình.Nếu chúng ta luôn thận trọng, chú tâm, quan sát những sự việc xảy ra quanh mình với một thái độ không bình luận, không phê phán, không mong cầu nó “phải là” hay “sẽ là” thì cuộc sống của chúng ta sẽ nhẹ nhàng hơn, sẽ ít gặp rắc rối và ít khổ đau hơn;và điều này cho thấy chúng ta đã vận dụng được kiến thức Vi Diệu Pháp và nguyên lý của Thiền quán vào trong cuộc sống hằng ngày. Cái tâm bình lặng, trong sáng quan sát sự vật ở đây đồng nghĩa với tự tánh sáng suốt mà ngài Huệ Năngđã thốt lên khi đại ngộ: “Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào ngờ tự tánh vốn không sanh diệt, nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ, nào ngờ tự tánh vốn không dao động, nào ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp”.[19] Sự thanh tịnh, sáng suốt, không sanh diệt, không lay động,...chính là đặc tánh trong sáng của tâm, chỉ nhận biết đối tượng chứ không phán xét, không áp đặt một tự ngã vào cái thấy biết đó.

 


Chú thích:

[1]Luận sư Buddhaghosa, Tỳ kheo Ñāmoli dịch, The Path of Purification, NXB Malaysia: Penang Buddhist Association, 1999, tr. xvi

[2]Hòa thượng Sīlananda, Handbook of Abhidhamma Studies, NXB Malaysia: SBVMS, 2012, tr.10

[3] Luận sư Buddhaghosa, Pe Maung Tin dịch, The Expositor (Atthasālanī), NXB London: Pāli Text Society, 1976, tr. 1-2

[4]Tỳ kheo Bodhi, A Comprehensive Manual of Abhidhamma, NXB Sri Lanka: Buddhist Publication Society, 1993, p. 27

[5]Phạm Kim Khánh dịch, Kinh Pháp Cú, www.budsas.org

[6]Luận sư Buddhaghosa, Pe Maung Tin dịch, The Expositor (Atthasālanī), NXB London: Pāli Text Society, 1976, quyển 1, tr. 85; Chú giải Paisambhidāmagga Pāli, quyển 1, tr. 98; Ledi Sayadaw, Paramatthadīpanī, tr. 19

[7] I.B. Horner dịch, Milinda’s Questions, NXB England: Luzac Company, 1964, tr. 183

[8]Luận sư Buddhaghosa, Pe Maung Tin dịch, The Expositor (Atthasālanī), NXB London: Pāli Text Society, 1976, quyển 1, tr. 90

[9]Luận sưAnurudha, Hòa thượng Nāradha dịch, A Manual of Abhidhamma, NXB Yangon: Ti Ni Publishing Centre, 1992, quyển 1, tr. 76

[10]Hòa thượng Sīlananda, Lectures on Abhidhamma, CD-Rom

[11]Dhammasagaī Aṭṭhakathā, Chaṭṭha Sagāyanā CD-Rom, tr. 51

[12]Sayutta Nikāya, quyển III, Chaṭṭha Sagāyanā CD-Rom, tr. 86,

[13] Luận sư Anurudha, Hòa thượng Nāradha dịch, A Manual of Abhidhamma, NXB Yangon: Ti Ni Publishing Centre, 1992, quyển 2, tr. 116

[14]Luận sư Buddhaghosa, Pe Maung Tin dịch, The Expositor (Atthasālanī), NXB London: Pāli Text Society, 1976, quyển 1, tr. 71

[15] Hòa thượng Rahula, What the Buddha Taught, NXB London: Gordon Fraser, 1989, tr. 69; Tỳ kheo Nyanatiloka, The Path to Deliverance, NXB Sri Lanka: Buddhist Publication Society, 2000, tr. 123

[16] Hòa thượng Nandamāla, Abhidhamma Lectures, CD-Rom, 11-06-2001

[17]Luận sư Anurudha, Hòa thượng Nāradha dịch, A Manual of Abhidhamma, NXB Yangon: Ti Ni Publishing Centre, 1992, quyển 1, tr. v

[18]Tỳ kheo Nyanaponika, Abhidhidhamma Studies, NXB Sri Lanka: Buddhist Publication Society, tr. xxiii-xxiv

[19]Hòa thượng Thanh Từ, Kinh Pháp Bảo Đàn,www.thuvienhoasen.org