Thứ Ba, 9 tháng 1, 2024

Tu tiến Phúc Hành Tông

 


"Nguyện không làm điều ác"

"Nguyện thành tựu các hạnh lành"

"Nguyện giữ gìn tâm ý trong sạch"

TU TIẾN PHÚC HÀNH TÔNG

Tu tiến là sự tu tập, hành thiền, giữ giớiLà trau giồi để có sự ghi nhớ, tỉnh giác và chánh niệm, luôn luôn biết được thân và tâm trong mọi tạo tác hay hành động. Sự trau giồi này tạo cho bạn có một năng lực để điều phục, thúc liễm thân tâm, chế ngự tham, sân và si. Từ đó có những lời nói, hành động và ý nghĩ thiện đưa đến quả an vui trong cuộc sống.

Cần Như Ý Túc

- Việc thiện nào đã làm thì nên làm tăng trưởng.

- Việc thiện nào chưa sinh thì nên làm cho phát sinh.

- Việc bất thiện nào đã làm thì nên diệt bỏ.

- Việc bất thiện nào chưa làm thì đừng làm cho phát sinh.

Đây cũng là những điều cho ta tu tập trong sự tỉnh giác và chánh niệm.

Trong cuộc sống hằng ngày thực tập chú tâm và ghi nhớ trong mỗi hành động việc làm của mình. Có chú tâm, có tác ý và bớt đi những việc làm máy móc theo thói quen không có suy nghĩ. Thực hành tỉnh thức bằng cách ghi nhận rõ ràng (Chánh Niệm) và để tâm chú ý (Chánh Định) trong mọi công việc làm của chúng ta dù nhỏ hay lớn.

Ví dụ: Khi chúng ta vừa ăn cơm vừa đọc báo, xem truyền hình hay điện thoại cùng một lúc, cơm thì đưa vào miệng và nhai theo thói quen mà mắt và tâm thức thì để vào tờ báo, truyền hình hay điện thoại. Một điều nữa là vì quá tham nên chúng ta muốn làm được thật nhiều việc trong 24 tiếng đồng hồ chứ không chịu bỏ bớt chuyện gì, vì thế trong cùng một lúc chúng ta làm hai hay ba việc, như vậy thì chúng ta không có sự ghi nhận và chú tâm trọn vẹn rõ ràng vào việc ăn cơm.

Nên cần nhìn lại vấn đề trên để thực tập ghi nhận, tỉnh thức, sống tỉnh giác và chánh niệm.

Thường xuyên tập luyện như thế trong khi hành thiền và mọi sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày thì được một sự tỉnh giác, chánh niệm, nhận thấy rõ những tâm ý thiện hay bất thiện sanh khởi. Nếu thấy được tâm ý thiện hay bất thiện khởi lên thì sẽ biết cách ứng phó, để tạo hành động thiện và ngăn ngừa hành động bất thiện.

Đây là những phương pháp khởi đầu, mới làm quen với cách Tu Tiến, hành thiền và mới đi vào cuộc sống tâm linh. Thiền có tầng bậc khác nhau cũng như tu tập điều có từng giai đoạn, từng thời điểm và tùy theo chí nguyện của mỗi người. Chắc chắn chí nguyện của mỗi người điều khác nhau cho nên sự tu tập thường xuyên hay chểnh mãng cũng khác nhau.



THỰC HÀNH (Giai đoạn bắt đầu)

Mỗi ngày nên dành khoản 15 phút thực tập an tịnh thân tâm và tập sống tỉnh thức.

A. NGHI THỨC:

Đãnh Lễ Phật (3 lễ)

- Lễ thứ nhất, với hết lòng thành kính, con trí kính lễ Ân Đức của Ngài, tri ân Bậc Đạo Sư đã giác ngộ giải thoát.

Lễ thứ hai, với hết lòng thành kính, con trí kính lễ Ân Đức của Ngài, tri ân Bậc Đạo Sư đã chỉ ra con đường giác ngộ giải thoát cho chúng con.

- Lễ thứ ba, với hết lòng thành kính, con trí kính lễ Ân Đức của Ngài, và nguyện gieo nhân đến Đạo Quả Níp Bàn.

Thọ Tam Quy

- Con nguyện quy y Phật

- Con nguyện quy y Pháp

- Con nguyện quy y Tăng (3 lần)

Thọ Ngũ Giới

- Con xin vân giữ điều học và cố ý tránh xa sự Sát Sanh

- Con xin vân giữ điều học và cố ý tránh xa sự Trộm Cắp

- Con xin vân giữ điều học và cố ý tránh xa sự Hành Dâm

- Con xin vân giữ điều học và cố ý tránh xa sự Nói Dối

- Con xin vân giữ điều học và cố ý tránh xa sự Dễ duôi, uống rượu và các chất say.

Rải Tâm Từ

- Mong cho tôi được an vui và tất cả chúng sanh cũng được như tôi.

Niệm Sự Chết

- Tất cả chúng sanh đều có sự chết là nơi cuối cùng và tôi cũng vậy.

B. HÀNH THIỀN:

Khi thực hành an tịnh thân, tâm, bạn ngồi tỉnh lặng, chú Tâm vào hơi thở. Chú tâm theo dõi hơi thở vào , hơi thở ra. Nếu hơi thở nặng thì biết và ghi nhận là hơi thở nặng. Nếu hơi thở nhẹ thì biết và ghi nhận là hơi thở nhẹ. Khi có những ý nghĩ nào sanh lên thì nhận biết, nhưng không chạy theo, mà quay về ghi nhớ và chú tâm vào hơi thở. Khi không nhận biết được ý nghĩ xen vào thì sẽ bị những dòng ý nghĩ sinh khởi kéo Tâm đi từ những ý nghĩ này đến những ý nghĩ khác, liên tục và không ngừng nghĩ, như thế là đã mất sự chú tâm và ghi nhớ đến hơi thở vào, và hơi thở ra. 

C. HỒI HƯỚNG:

"Phước quý báu mà con đã trong sạch làm đây, nguyện làm nhân đến đạo quả Níp Bàn"

"Nguyện xin hồi hướng đến chư thiên, vua trời đế thích, các ngài tứ đại thiên vương, chư thiên ở khắp mọi phương trời, nhất là chư thiên ở trong nhà chúng con, xin chư thiên hoan hỷ, hoan hỷ, hoan hỷ với quả phước báu này, được tăng phước tăng thọ trong các cõi trời mà các ngài đang trú ngụ"

"Nguyện xin hồi hướng quả phước báu này đến cửu huyền thất tổ, ông bà, cha mẹ đã quá vãng, đặng hay biết mà hưởng cảnh quả phước như ý nguyện, nếu sống trong cảnh khổ xin được thoát khổ, nếu được trong cảnh an nhàn thì được tăng phước tăng thọ"

"Nguyện xin chia quả phước báu này đến thân bằng quyến thuộc, ông bà, cha mẹ còn đang tại tiền, xin được tai qua nạn khỏi, tật bệnh tiêu trừ, phiền não đoạn diệt, thân tâm được an lạc, và đặng hưởng cảnh quả phước như nguyện"

"Nguyện xin hồi hướng quả phước báu này đến chư diêm vương, đến tất cả chúng sanh trong ba giới, bốn loài và cho con sớm mau đặng hưởng cảnh quả phước như ý nguyện mong cầu đều nhau cả thảy".


Thứ Tư, 8 tháng 11, 2023

Nói gì với người sắp mất

 


NÓI GÌ VỚI NGƯỜI SẮP MẤT - (BÀI KINH CẦU SIÊU).

CÁCH TỐT NHẤT LÀ GIÚP NHAU SỐNG THANH THẢN, GIÚP NHAU CHẾT BUÔNG BỎ.
Một trong pháp CẦU SIÊU hay nhất của Phật Giáo nguyên thủy, do chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bày ra.
Ngài dạy cho mình, rất tiếc ngày nay, tôi không hề được nghe ở những buổi Cầu Siêu. Mặc dầu Đức Phật không bao giờ Ngài chủ trương Cầu Siêu, nhưng mà thật ra Ngài có hướng dẫn người ta Cầu Siêu rất hay.
Mà tôi rất thấy làm lạ :
- Phật tử Việt Nam không hề biết đến chuyện đó.
● Ngài có một người bà con là người Chú họ đến hỏi Ngài :
- Bạch Thế Tôn, nếu mà phải chăm sóc một người thân lúc sắp chết thì chúng con phải làm gì cho đúng tinh thần của một Phật tử, tinh thần Chánh Pháp ...?
Đức Phật dạy hãy đến bên Cha Mẹ, người thân và nói thế này :
- Việc nhà đã có người lo.
Chết không phải là kết thúc mà nó là sự bắt đầu.
Cái tấm thân này chỉ là một chén đất đã mẻ, cũ.
Người có Công Đức, bỏ nó đi để kiếm một cái bát bằng vàng ở chỗ khác.
Nó bây giờ đã già và đã xấu, nó đã đau đớn, nó đã nhăn nheo thế này mà tiếc gì nữa ..!
Tại sao không nghĩ đến một chỗ khác tốt hơn ...?
Cõi nhân loại này mệt mỏi lắm ...!
Hãy nghĩ đến các cõi Trời :
- Ở đó không có đau, không có bệnh, không có hờn giận, không có sợ hãi, không có đấu tranh, không có máu lệ, có điều kiện tu học tốt hơn.
Nhưng hễ còn Tái sanh thì còn Khổ.
Ở cõi nào đi nữa thì cũng có lúc quay về chỗ Khổ nhất.
Cho nên hãy nghĩ đếnTam Tướng, nghĩ đến sự lìa bỏ cái Ngũ Uẩn để đừng có Tái Sanh nữa.
Đừng mong đợi Tái Sanh nữa mà hãy tác ý đến Niết-Bàn.
● Nếu các vị hỏi tôi :
- Hộ Niệm cho Mẹ tôi, tôi phải làm sao ...?
Tôi nói rõ, tôi sẽ hỏi Mẹ tôi trước (nếu Mẹ mê rồi thì thôi không nói) nhưng nếu Mẹ còn tỉnh tôi sẽ hỏi :
- Mẹ muốn nghe gì hay là nằm nghỉ.
- Mẹ giữ Chánh Niệm, thở ra biết thở ra, thở vào biết thở vào.
Đừng nghĩ gì hết, hít sâu, thở chậm, hít sâu, thở chậm ...
Còn nếu Mẹ tôi muốn nghe thì tôi sẽ hỏi thêm :
- Mẹ muốn nghe nói hay là Mẹ muốn nghe Tụng.
Nếu mẹ muốn nghe Tụng thì con sẽ mời quí Sư Tụng, còn Mẹ muốn nghe nói thì Mẹ muốn nghe ai nói.
Nghe con nói hay người khác nói ...?
Nếu Mẹ tôi nói :
- Sư nói đi, thì tôi sẽ nói rất gọn :
- Mẹ do Nghiệp ảo ảnh mà đến đời này, rồi bây giờ cũng do Nghiệp ảo ảnh mà đi.
Đã nói ảo ảnh thì không có gì sợ, không có gì tiếc nhớ.
Mẹ nhớ bây giờ Mẹ bình tỉnh là đi ngon lành nhất, con đường Thiện chỉ dành cho người Tỉnh Thức.
Bây giờ Mẹ nằm nghỉ một chút.
Bàn tay đây Mẹ cầm đi; hít sâu, thở chậm, không có gì sợ hết.
Đang bỏ đồ cũ, đang dọn về nhà mới; lúc nào cũng kế bên để cho Mẹ đi.
Đó là cách mà Hộ Niệm cho người hấp hối rất là tốt.
Mà khổ một nổi là ngày nay mình không nói cho người bệnh hiểu, mà mình khoái tụng cho người bệnh nghe.
Hai cái này khác nhau phải không ...?
Nói cho họ hiểu, nó khác, còn tụng cho họ nghe, nó khác.
Người ta đang ngáp ngáp mà mà lại tụng ê.. a ..Pali không hiểu mà ồn thêm.
Mà tôi còn biết nhiều cái đám, Bố Mẹ đang nằm ngáp ngáp mà con cái bu lại khóc lóc.
Các vị biết, khi mà ra đi trong tiếng khóc của người thân là mình bị hoảng loạn cũng có, mình tiếc thương.
Người ra đi không đành thì không có nên.
Mình biết Đạo không có hành động kỳ cục như vậy.
Mình phải giúp cho họ ra đi thanh thản.
● Cho nên có nhiều cách để chúng ta giúp nhau.
Nhưng mà cách tốt nhất là giúp nhau Sống Buông Bỏ và giúp nhau Chết Thanh Thản thoải mái.
Đó là điều tôi muốn nhắc nhở.



Bức tường và Chiếc cầu

 


BỨC TƯỜNG VÀ CHIẾC CẦU

Do tiền nghiệp, khuynh hướng tâm lý, môi trường sống mà mỗi chúng sanh sinh ra trong cuộc đời có vô số những thứ rào cản.
Trong lòng mỗi chúng sinh có những bức tường, những chiếc cầu.
Bức tường của anh không giống bức tường của tôi, chiếc cầu của anh không giống chiếc cầu của tôi.
Bức tường = những thứ chặn đứng, nhận thức của mình, thí dụ: quan điểm chính trị, văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng,… của tôilà những rào cản thay vì vượt qua rào cản để tôi nghĩ đến & nhìn tới những cái cao hơn xa hơn rộng hơn, đằng này chính những rào cản chính trị, tôn giáo, văn hóa, ..khoa học, có những người bị tù đày trong những quan điểm khoa học.
Mà khoa học mênh mông lắm, học được ba mớ tự cho là thước đo vũ trụ, ngay cả khoa học cũng có thể là rào cản cho nhận thức của mình.
Có nhiều thứ rào cản, có thể là thứ mình thích, mà mình ghét gì cũng là rào cản.
Có người vì lý do nào đó, không thích chùa, thấy không có tóc, thấy ê a là họ ghét, mà trong khi chưa một lần họ ngồi xuông nghe tăng ni nói gì, đọc trang kinh phật coi nói gì. Họ xài chữ rất nặng “ thầy chùa, bà vãi” họ chỉ nghĩ tới đó thôi.
Chính cái ghét đó làm họ không đi xa được.
Cũng có trường hợp do mình thích gì đó làm mình không đi xa được : thích mua sắm, rong chơi, giao tiếp, cắm đầu trong cái thích mình cũng không đi xa được.
Vậy cái thích, cái ghét cũng là rào cản dầu là chính trị, văn hóa, .. .ngay cả khoa học.
Cái cầu cũng chính là những cái thích, ghét. Cái thích đưa mình tới những bến bờ không giống ai, cái ghét cũng là cái cầu bắc sang bờ khác không giống ai.
Trong lòng mỗi người có những bức tường chặn đứng tư duy và những cây cầu đưa chúng ta đến những bến bờ không giống nhau.
Ngay từ bây giờ, trong từng cái mình thích, bản thân nó vừa là bức tường chận đứng nhận thức của mình, mình không leo ra khỏi bức tường đó, nó cũng là cái cầu kết nối mình kết nối mình với bến bờ nào đó, trong cái nhìn.
Cái nghe cũng vậy. Đối với Phật pháp mỗi người đến bằng những bức tường, cây cầu. Đó là tôi nói nhẹ, chứ mình đến với Phật pháp này có nhiều bức tường chận lắm, và có nhiều cây cầu kết nối sang những bến bờ nào đó trong Phật pháp.
Bức tường đó, cây cầu đó, không có gì lạ hết. Nó chính là cái mình thích, ghét, cái mình quan tâm, thứ mình trốn chạy, kiếm tìm. Nó vừa là bức tường vừa là cầu nối.
Tôi nói về Phật pháp nha.
Thích bố thí quá, chỉ coi nặng bố thí, coi thường người không bố thí.
Thích bố thí là tốt nhưng coi thường người không bố thí là bậy, tự mãn với cái hạnh bố thí của mình là bậy.
Giữ giới cũng vậy. Giữ giới là sư ngăn tránh điều ác một cách tự nguyện có ý thức, mình không làm bậy vì hiểu tại sao mình không nên làm, đó mới là giới theo tinh thần Phật pháp, Giới không phải là cái mình coi thường người không giữ giới và cái mình tự mãn sự trong sạch, thanh tịnh của mình.
Lúc bấy giờ giới là bức tường, rào cản, và cũng là cây cầu kết nối mình sang bến bờ không phải là giải thoát.
(Trích bài giảng ĐẠO VÀ ĐỜI
Sư Toại Khanh Giảng Giải)

Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023

Tử sanh luân hồi miên viễn

 


CHÁNH KIẾN VỀ CUỘC ĐỜI

Dr. Mehm Tin Mon  - TK Pháp Thông dịch 

Nhân và Quả Vòng Tử Sanh Luân Hồi Miên Viễn 

Mười hai yếu tố (mắc xích) tạo thành mười một mối quan hệ nhân quả của Pháp Duyên Sanh có thể sắp thành ba vòng xoay như sau:

(1) Vòng Phiền Não hay Phiền Não Luân: - vô minh, ái, thủ 

(2) Vòng Nghiệp hay Nghiệp Luân: - hành, nghiệp hữu (kamma bhava) 

(3) Vòng Quả hay Quả Luân: - sanh hữu (upapattibhava), thức, danh-sắc, lục nhập, xúc, thọ, sanh, già và chết. 

Phiền não luôn luôn ngủ ngầm trong tâm chúng ta, sẵn sàng thức dậy khi các đối tượng giác quan đập vào các căn môn tương ứng (mắt, tai, mũi, lưỡi, tâm) và cảm thọ lúc đó sẽ sanh. 

Vô Minh (avijjā) là sự không hiểu biết về bản chất thực của các đối tượng giác quan, không hiểu biết về nghiệp và quả của nghiệp, không hiểu biết về Pháp Duyên Sanh và không hiểu biết về Tứ Thánh Đế. 

Ái (Taṇhā) là khát khao dục lạc và các đối tượng giác quan (sắc, thanh,…), do vô minh làm cho các đối tượng giác quan trông có vẻ như thường, lạc, ngã hay có thực chất, và đẹp trong khi các đối tượng ấy thực tế là vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh hay đáng nhờm gớm. 

Thủ (upādāna) là sự gắn bó hay chấp chặt vào dục lạc và các đối tượng giác quan. 

Vô minh, ái, thủ vận dụng hết sức mạnh và ảnh hưởng của chúng để làm cho các chúng sanh thực hiện các hành nghiệp nhằm hưởng thụ các dục lạc, như sát sanh, trộm cắp tài sản của người khác, lừa đảo tiền của người khác, hiếp dâm hay tà dâm, uống rượu, chích hút xì-ke ma túy, hay làm những thiện nghiệp khác để mong thọ hưởng những dục lạc cao cấp hơn trên thiên giới. 

Trong khoảng thời gian của một hành động bất thiện hàng tỷ tâm bất thiện kết hợp với những tư bất thiện sanh lên và diệt như những hành nghiệp, để lại hàng tỷ hạt giống nghiệp hay chủng tử nghiệp trong dòng tâm thức. 

Tương tự, trong khoảng thời gian của một hành động bất thiện, như bố thí, trì giới, hành thiền cũng có hàng tỷ tâm thiện kết hợp với những tư thiện sanh lên và diệt như những hành nghiệp, để lại hay đọng lại hàng tỷ chủng tử nghiệp trong dòng tâm tương tục. 

Những chủng tử nghiệp bất thiện và chủng tử nghiệp thiện này sẽ cho ra những quả xấu hoặc tốt tương ứng bắt đầu từ kiếp hiện tại này. Vào lúc chết một trong những chủng tử nghiệp mạnh nhất gọi là Sanh Nghiệp sẽ có cơ hội làm duyên cho kiếp sau.

Nếu một thiện nghiệp có cơ hội cho quả, một hiện hữu mới trong cõi an vui — cõi người hoặc cõi chư thiên, sẽ xuất hiện. Nếu một bất thiện nghiệp có cơ hội làm duyên cho hiện hữu mới, hiện hữu ấy sẽ xuất hiện nơi một trong các cõi khổ — địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hoặc A-tu-la

Lại nữa, khi các chủng tử nghiệp tạo ra những hiện hữu mới, vô minh, ái, thủ sẽ đóng vai trò như những trợ lực giống như cách đất, nước, và gió hỗ trợ cho những hạt giống cây để sanh ra những cây mới vậy.

Vì thế các chúng sanh sẽ tái sanh vào những cõi mà họ dính mắc. Chẳng hạn, người Bà-la-môn giàu có tên là Todeyya tái sanh làm chó trong căn nhà của chính ông ta. Tỳ-kheo Tissa tái sanh làm con rệp trong tấm y mới mà vị ấy dính mắc; thiếu nữ Uposathā, người đã giữ giới một cách trong sạch, tái sanh làm một thiên nữ trong Lạc Viên Nandavana trên cõi trời Đạo Lợi, nơi mà cô mong ước được sanh về. 

Khi một hiện hữu mới xuất hiện, vô minh, ái và thủ cũng xuất hiện trong dòng tâm thức mới như những phiền não ngủ ngầm. Khi các đối tượng giác quan đập vào căn môn tương ứng khiến cho Thọ sanh, các Phiền Não sanh trong dòng tâm thức ấy. Những phiền não này sẽ khiến cho hành nghiệp mới và chủng tử nghiệp mới sanh. Với sự hỗ trợ của vô minh, ái và thủ, những chủng tử nghiệp này sẽ tạo ra sự hiện hữu mới, điều này có nghĩa là vòng quả luân lại tiếp tục xoay vào lúc chết. 

Như vậy, vòng luân hồi sẽ duy trì sự xoay chuyển như sau: “phiền não luân → nghiệp luân → quả luân → phiền não luân → nghiệp luân → quả luân,….” Vòng xoay cơ bản nhất là phiền não luân.

Vì thế, bao lâu phiền não còn có mặt trong tâm của các hữu tình chúng sanh chừng đó họ vẫn sẽ thực hiện các hành động với chủ ý có khả năng tạo ra nghiệp và chủng tử nghiệp. Những chủng tử nghiệp này sẽ tạo ra sự tái sanh hay hiện hữu mới vào lúc chết với sự hỗ trợ của vô minh, ái và thủ. Khi tái sanh có mặt thì những phiền não này cũng có mặt như những phiền não ngủ ngầm. Vòng tử sanh Luân Hồi cứ tiếp tục diễn tiến như vậy cho mỗi chúng sanh từ quá khứ vô thỉ cho đến tương lai vô định. 

Luân Hồi Dài Bao Lâu? Bạn Đã Sống Vô Lượng Kiếp Sống 

Này các Tỳ-kheo, cái nào các người nghĩ là nhiều hơn: nước mắt mà các người khóc than trong vòng luân hồi này do phải gần gũi những người mình không ưa và xa lìa những người mình yêu mến - cái này hay nước trong bốn đại dương? Thực sự các người đã đổ nước mắt trong vòng luân hồi này nhiều hơn cả nước trong bốn đại dương vậy. (Anamatagga Saṃyutta, Tiṇakaṭṭha Sutta 394). 

Luân Hồi dài đến nỗi không một người nào không từng có quan hệ đối với chúng ta như cha, mẹ, vợ, chồng, con trai, con gái, cô, cậu,…Vì thế chúng ta không nên có lòng thù nghịch mà phải thân thiện với nhau. (S.ii.189— 190).

Sanh làm người - Một trong những điều quý giá nhất 

1. Năm Điều Rất Khó Gặp: Kiếp sống làm người của chúng ta là quý nhất

Hàng ngày Đức Phật thường nhắc các hàng đệ tử của ngài rằng có năm điều rất khó đạt được và thúc giục mọi người hãy hoàn thành Tam Học (Giới – Định – Tuệ) để tự giải thoát mình khỏi mọi khổ đau.

(1) Trở thành một vị Phật là điều rất khó. Vì thế gặp được giáo pháp của Đức Phật (Sāsanā) cũng là điều rất khó. 

(2) Có được thân người là điều rất khó. 

(3) Phát triển được niềm tin (saddhā) nơi Phật, Pháp, Tăng và luật nhân quả là điều rất khó. 

(4) Xuất gia sống đời một vị Tỳ-kheo là một điều rất khó. 

(5) Nghe được chánh Pháp đúng như Đức Phật đã giảng giải là điều cực kỳ khó. (Sagāthāvagga Saṁyutta, A.225)

Có thể nói, hầu hết chúng ta đã có được bốn hay năm điều khó gặp trên, vì thế chúng ta phải xem kiếp sống làm người của chúng ta là rất giá trị và chúng ta không nên sử dụng sai kiếp người bằng cách sống cẩu thả hay sống chỉ để thụ hưởng các dục lạc. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào chúng ta cũng không nên tự tử vì một hành động không hợp pháp như vậy chứng tỏ là chúng ta đã thất bại hoàn toàn trong cuộc sống. 

Chúng ta phải cố gắng hết sức để tận dụng những cơ hội vàng đã mở ra cho chúng ta này để đạt đến mục đích cao nhất của cuộc sống như lời khuyên của Đức Phật.

2. Cõi người

Về một số phương diện nào đó vẫn tốt hơn các Cõi Chư Thiên. 

Dù kiếp sống làm người và kiếp sống chư thiên cõi trời dục giới cả hai đều được đạt đến bằng qủa của những phước nghiệp thông thường như bố thí, giữ giới hoặc hành thiền. Tuy nhiên dục lạc cõi trời vẫn thù thắng hơn dục lạc cõi người. 

Dục lạc thù thắng hơn có nghĩa là sự hưởng dục sẽ nhiều hơn và sự lơ là trong việc làm phước cũng nhiều hơn. Một số chư thiên mải mê hưởng thụ các dục lạc đến nỗi quên ăn và vì thế họ phải chết. Vì họ lơ là trong việc làm phước, họ có thể phải tái sanh vào các cõi khổ sau khi chết. 







Updating ..........











Thứ Tư, 30 tháng 8, 2023

Buông bỏ ***

 



BUÔNG BỎ
Nên đọc cái gì và tại sao.
Nội dung đại lượt của Tam Tạng, thì phần nào là phần Phật ngôn, phần nào là phần do các vị kết tập... 
Để trả lời phần này thì chúng ta nhắc đến bài kinh ngắn trong Tăng Chi Bộ. Có lần đó bà Gotami, di mẫu của Đức Thế Tôn đến thưa với Ngài là "Bạch Thế Tôn, hàng hậu học về sau, họ sẽ phải nghe thấy rất là nhiều hướng dẫn có nhãn hiệu là Phật Pháp. Và họ sẽ dựa vào đâu để xác định, minh định được đó là lời Thế Tôn?" Thì Đức Phật Ngài dạy rằng: "Cái pháp môn nào mà càng theo đuổi càng hành trì, mà giúp người ta được sự an lạc thì đó là chánh pháp. Càng theo thì mình càng trở nên tinh tấn đó là chánh pháp, càng theo mà mình càng dễ nuôi đó là chánh pháp".
Cái pháp môn nào đường lối hành trì nào mà càng theo người ta càng chán sợ đám đông, càng ưa thích sống viễn ly, độc cư thì đó là chánh pháp, Ngài nói 8 tiêu chí nhưng đó là mình nói gọn lại.
Ngài Ajahn Chah cũng nói "Đặc điểm của Phật Pháp là mình càng theo mình càng có khả năng buông bỏ".
Cuối cùng thì khả năng buông bỏ chính là đặc điểm của giáo pháp.
Cuốn sách nào, ngôn từ nào, chữ nghĩa nào mà nó giúp mình có được sự củng cố Bát Chánh Đạo, củng cố trong các hạnh lành, trong 37 phẩm bồ đề, đó chính là cái mình cần nghe, cần đọc.
Ngôn từ nào, cuốn sách nào, chữ nghĩa nào mà dạy cho mình khả năng buông bỏ tốt, thì đó chính là chánh pháp.
Buông bỏ nghĩa là sao?
Mình đọc sách đó, mình không có đắm đuối, đê mê trong cái đời sống hưởng thụ nửa, không có tiếp tục đắm đuối chìm sâu trong đời sống tình cảm nửa, bớt oan trái, nội kết, thù hận, xung đột, mâu thuẫn với người khác, đó là dấu hiệu, đó là buông bỏ.
Nên nhớ điểm này, bất cứ một cuốn sách hay bài giảng nào mà nó không mang hơi hướng buông bỏ, mà nó mang hơi hướng ràng buột, trói chặt (trói chặt vào niềm tin, trói chặt vào đường lối nhận thức) thì bản thân nó có vấn đề.
Thí dụ: Vị thầy nào đó nói cho chúng ta nghe bao nhiêu điều hay ho, nhưng lắng tâm lại ý ngầm của cuốn sách đó, ý ngầm của ngôn từ đó, ý ngầm của vị thầy đó khuyên mình tôn vinh cái đường lối của vị đó, tôn vinh con người của vị đó, đó là đại kỵ. Khi mình thấy rằng cuốn sách đó càng đọc khiến cho mình có khuynh hướng tham thích, bất mãn, chống đối, ràng buộc với một người hay sự vật hay một đường lối nào đó là bản thân nó đã sai rồi.
Cho nên, nội dung của Phật Pháp, nội dung của Kinh sách nói chung, những cuốn mà mình phải lưu tâm tìm đọc, cái chuyện đầu tiền là kêu gọi sự lìa bỏ ác pháp, lìa bỏ chuyện xấu, chuyện bậy, càng đọc nó cảng tháo cỡi không thương thích người, vật, sự kiện nửa đó là sự tháo cởi một, tháo cởi hai là không tiếp tục thù oán, nội kết, ràng buộc trong cái thích cái ghét, trong cái đam mê và cái bất mãn nửa. Đó là nội dung của buông bỏ.
Đại kỵ tránh chuyện thờ tổ, Chư Phật đại diện cho chân lý, thờ Phật là thờ chân lý, ngoài Chư Phật ra thì tất cả đều là những người nói theo Phật.
Nếu Sư Phụ mình nói sai lời Phật thì hay bằng trời đi nửa thì cũng nên tránh, còn nếu nói đúng lời Phật thì cái người phải mang ơn là Phật chứ không phải thầy, có chăng mang ơn thầy vì nắm tay dắt đi một đoạn đường.


....Updating
Tóm lượt bài giảng Sư Giác Nguyên



Thứ Ba, 22 tháng 11, 2022

Bát chánh đạo (trích kinh: Phân biệt về sự thật)

 


BÁT CHÁNH ĐẠO

Này chư hiền, thế nào là Khổ Diệt Đạo Thánh Đế?

Đó là Bát Thánh Đạo, ở đây gồm có Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Cần, Chánh Niệm, Chánh Định.

Này chư hiền, thế  nào là Chánh Kiến?

Này chư hiền,

Trí tuệ trong Khổ Đế, 

Trí tuệ trong Tập Đế,

Trí tuệ trong Diệt Đế,

Trí tuệ trong Đạo Đế.

Này chư hiền, như vậy gọi là Chánh Kiến.

Này chư hiền, thế  nào là Chánh Tư Duy?

Ly Dục Tư Duy,

Vô Sân Tư Duy,

Bất Hại Tư Duy.

Này chư hiền, như vậy gọi là Chánh Tư Duy.

Này chư hiền, thế nào là Chánh Ngữ?

Sự kiêng tránh vọng ngữ,

Sự kiêng tránh lưỡng thiệt,

Sự kiêng tránh ác khẩu,

Sự kiêng tránh phiếm luận.

Này chư hiền, như vậy gọi là Chánh Ngữ.

Này chư hiền, thế nào là Chánh Nghiệp?

Sự kiêng tránh sát sanh,

Sự kiêng tránh trộm cắp,

Sự kiêng tránh tà dâm.

Này chư hiền, như vậy gọi là Chánh Nghiệp.

Này chư hiền, thế nào là Chánh Mạng?

Này chư hiền, ở đây vị thánh đệ tử từ bỏ sinh kế tà ác, sống bằng sinh kế chơn chánh.

Này chư hiền, như vậy gọi là Chánh Mạng.

Này chư hiền, thế nào là Chánh Cần?

Này chư hiền, ở đây vị tỷ kheo nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm ngăn chặn các bất thiện pháp chưa sanh khởi không cho sanh khởi.

Vị ấy nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm đoạn trừ các bất thiện pháp đã sanh khởi không cho tái diễn.

Vị ấy nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm khiến cho các thiện pháp chưa sanh khởi được sanh khởi.

Vị ấy nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm khiến cho các thiện pháp đã sanh khởi được duy trì, không để tiêu mất, khiến cho được tăng thịnh, phát triển, viên mãn.

Này chư hiền, như vậy gọi là Chánh Cần.

Này chư hiền, thế nào là Chánh Niệm?

Này chư hiền, ở đây, tỷ kheo sống quán Thân trên Thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;

Sống quán Thọ trên Thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;

Sống quán Tâm trên Tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời;

Sống quán Pháp trên các Pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời.

Này chư hiền, như vậy gọi là Chánh Niệm.

Này chư hiền, thế nào là Chánh Định?

Này chư hiền, ở đây, tỷ kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với Tầm, với Tứ.

Vị tỷ kheo ấy diệt Tầm, diệt Tứ, chứng và trú Nhị Thiền, một trạng thái hỷ lạc do Định sanh, không Tầm, không Tứ, nội tĩnh nhất tâm.

Tỷ kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Tam Thiền.

Tỷ kheo ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Tứ Thiền, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Này chư hiền, như vậy gọi là Chánh Định.

Này chư hiền, như vậy gọi là Khổ Diệt Đạo Thánh Đế.

Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy.

Các tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Sariputta dạy.

(Trung Bộ Kinh, bài 141 - kalama 227)


Chú giải:

CHÁNH KIẾN:

Chánh kiến : Là phân biệt thiện ác thấy được 4 đế và 12 duyên khởi trong từng giây phút thiện ác.
- Bước 1: Hồi chưa biết đạo thì mình chỉ chạy theo thích, ghét, buồn, vui còn có hại mình hại người đời này đời sau thì không thành vấn đề. Cứ kệ nó mà chạy theo 4 chữ đó.
- Bước 2: Biết đạo kiểu sơ cơ thì mình chỉ quan tâm đến thiện ác thôi, cái gì là thập thiện cái gì là thập ác.
- Bước 3: Khi tu tập rốt ráo thì hiểu được rằng thiện, ác đều là nhân sanh tử.
Thiện đưa ta đi cõi lành, ác đưa ta đi cõi khổ. Ở đâu đến mãn thọ thì cũng phải bỏ đó mà đi nơi khác.
Nên hành giả tứ niệm xứ chỉ 1 lòng quan tâm tánh sanh diệt của thân tâm để sanh chán sợ sinh tử.
Phát hiện 1 ác tâm xuất hiện thì biết ngay đây là ác hành trong 12 duyên khởi nhân dẫn đến tâm thức tái sanh về cõi đoạ.
Phát hiện 1 tâm lành thì biết ngay đây là phúc hành (thiện hành) nhân tạo ra thức tái sanh về cõi vui.
Dầu là cõi khổ hay cõi vui cũng là khổ đế. Thích trong cõi nào cũng là thích trong khổ đế, mà thích trong khổ đế chính là tập đế. Trí hiểu được vậy gọi là chánh kiến.

Sư Toại Khanh giảng

CHÁNH TƯ DUY

...Con đường dẫn đến giải thoát Đức Thế Tôn chỉ nói đến tuệ học thôi đó là chánh tư duy gồm có 3:
1. Vô tham tư duy (Ly dục tư duy) : tầm viễn ly (tức là tâm sở vô tham) là không thích thú đam mê trong 6 trần.
2. Tầm vô sân: chính là tâm sở vô sân.
3. Tầm không hại : tức là bất hại tư duy ở đây chính là tâm sở bi ( tức bi tuỳ hỉ trong vô lượng phần của tâm sở).
Tại sao 3 cái này quan trọng, nghe cái tên nó hơi ngộ ngộ nhưng ngẫm lại thì nó đúng bao gồm tất cả là sao ta? Tu hành giải thoát là nhắm đến việc không thích gì (là vô tham), không bất mãn cái gì (là vô sân) và bức hại là không có lòng làm tổn thương xúc phạm chống phá đối đầu với bất cứ người hay vật.
Tôi chỉ ví dụ nhẹ quý vị đừng có lấy đó làm điều : người chơi hoa chơi kiểng thấy chậu hoa lâu ngày không tưới họ nhìn thấy họ cũng xót thì có 2 trường hợp:
1. Là tiếc của.
2. Không nở nhìn thấy 1 sức sống đang bị héo úa tàn phai, đang bị đe doạ 1 sức sống quá đỗi mong manh, họ không nỡ, không cam tâm, không nhẫn tâm.
=>Nói chi là mình nói mình làm 1 động thái gì đó lớn nhỏ để đem lại máu và lệ cho người khác cho chúng sinh khác dầu đó là con ruồi, con kiến, con trâu, con chó, con heo, con dê, con người, nam phụ lão ấu mà mình nói mình làm sao đó cho người ta chảy máu hoặc chảy nước mắt thì mình không có làm. Đối tượng lớn là động vật là chúng sinh, đối tượng nhỏ hơn là vật vô tri thì người tu hành không có nỡ không cam tâm.
- Đó là lý do mà Phật dạy tỷ kheo không đào đất, đốt lửa, chặt phá, chặt đốn cây cỏ lớn bé. Bởi vì không nỡ nhân tâm, có vị nào mà nhà quê nông thôn chắc biết là mình chọt cái xuổng của mình xuống đất nếu thật sự mình là hành giả thường xuyên sống chánh niệm an trú và từ tâm thì khi mình xúc cái xuổng xuống đất và đào lên thì có biết bao nhiêu sinh vật sẳn sàng chết dưới cái lưỡi xuổng dưới cái nhát đào của mình hay không. Nếu mình thật sự sống bằng từ tâm liên tục và thường trực, một từ tâm tràn ngập sung mãn thì mình không nở làm chuyện đó các vị biết không. Đó chính là bất hại tư duy, không nỡ không cam tâm, không nhẫn tâm.
- Còn vô sân tư duy là không bất mãn, bực mình cái gì ở đời dù đó là nội nhẫn hay ngoại nhẫn. Nội nhẫn là chịu được những khó chịu của thân tâm của bản thân mình chịu được. Ngoại nhẫn là những gì ập từ bên ngoài vào như thời tiết nóng quá, lạnh quá, ruồi, muỗi, lời ông tiếng ve, thị phi...từ cuộc đời nhắm vào mình mà mình chịu đựng được.
- Ly dục hay vô tham tư duy có nghĩa khi 6 căn biết 6 trần mình không để mình phải đắm đuối, đê mê, thích thú đối với bất cứ thứ gì, nó chỉ là nó thôi.
Trên nguyên tắc là phải nói như vậy, chứ quý vị đòi hỏi ổng nói như vậy mà ổng đã đắc chưa thì không được. Tôi đang nói nguyên tắc thì phải nói như vậy. Chính 3 cái này gọi là chánh tư duy.
Thật ra chỉ cần có chánh tư duy này là đại diện cho bát chánh đạo rồi nhưng vì căn cơ của người trước mặt nên thế tôn phải nói thêm cái chánh kiến nữa. Đúng ra chánh tư duy mà được tu tập rốt ráo thì phải cần sự hỗ trợ của 7 chánh còn lại. Cái này là Kinh nói chứ không phải tôi nói. Cái này mình được học bên Tương Ưng rồi. Không bao giờ có chuyện 1 người tu cái chánh này mà thiếu 7 cái chánh kia là không có, nếu mà thiếu là tà đạo chứ không phải chánh đạo. Chánh đạo thì phải luôn tuân theo công thức này tức là 1 cho 7 và 7 cho 1.

Sư Toại Khanh giảng















Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2022

12 Duyên Khởi

 


12 Duyên khởi.

Tu Niệm Xứ qua lý Duyên Khởi là cơ hội tốt nhất để quán chiếu Tứ Đế, 12 Xứ, 18 giới, khía cạnh nhân quả và khía cạnh tam tướng của Danh Sắc. Cái tác động là nhân. Cái được tác động là quả. Cái nào có tham đi cùng là Tập Đế. Cái nào không có tham đi cùng là Khổ Đế. Các thành phần Danh Sắc tiếp nối nhau sanh diệt, gọi chung là sự sanh diệt của Khổ và Tập.
Người không có tu tập thì 6 căn đời này là điều kiện cho 6 căn đời sau. Mỗi giây phút thất niệm là một mối nối trên dòng sanh tử. Tu tập là tách rời các mối nối không để chúng tiếp tục kết nối nhau.

Tu Tứ Niệm Xứ qua giáo lý duyên khởi là hành trình quan sát Khổ Đế và Tập Đế. Từ Vô Minh đến Lão, Tử chỗ nào có tham là Tập Đế, chỗ nào không có tham ái là Khổ Đế.
Sanh Lão Tử Vô Minh Hành
2 Hữu Luân Hồi Thức
4 Thủ Danh Sắc
6 Ái 6 Thọ 6 Thức 6 Nhập
Vô Minh trong Tứ Đế
Bất tri trong Khổ Đế: Không biết 5 Uẩn là 3 Khổ (Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ)
Bất tri trong Tập Đế: Không biết mọi thích thú của mình chỉ là đam mê trong 3 Khổ trước mắt và từ đó tạo ra 3 Khổ trong tương lai.
Bất tri trong Diệt Đế: Không biết sự vắng mặt của Khổ Đế (Vô dư Níp bàn) và Tập Đế (Hữu dư Níp bàn) là cứu cánh cao nhất để thoát khỏi 3 Khổ.
Bất tri trong Đạo Đế: Không biết rằng Bát Chánh Đạo là con đường duy nhất dẫn đến Diệt Đế.
Vô Minh duyên Hành Vì 4 cái bất tri này mà phàm phu thỏa mãn khát vọng (Tập Đế) và chạy trốn những thực tế phũ phàng (Khổ Đế) bằng cách thực hiện các nghiệp thiện ác. Dầu trốn khổ bằng miếng ăn hay bằng việc đắc chứng các tầng thiền Vô Sắc cũng đều là cách giải quyết Khổ Đế bằng cách đầu tư vào Tập Đế; thay vì làm ngược lại là muốn lìa Khổ Đế phải bỏ Tập Đế.
Hành duyên Thức Từ ý muốn sai lầm trốn khổ tìm vui phàm phu mới có tâm thiện ác. Tâm thiện ác tạo ra các tâm tái tục. Bản thân thiện ác là Tập Đế gián tiếp hay trực tiếp. Còn các tâm tái tục là đương nhiên là Khổ Đế rồi. Ngay cả các cảnh giới mà chúng ta hướng đến cũng nằm trong 3 Khổ. Ở các cõi thấp thì cón có Khổ Khổ. Ở các cõi cao thì chỉ có Hoại Khồ và Hành Khổ.
Thức duyên Danh sắc Thức ở đây là các tâm tái tục (tâm đầu thai) dẫn sanh về các cõi có sắc hoặc không sắc, có tâm hoặc không tâm. Đến đấy thì chúng ta thấy không có ai đi đầu thai hết. Chỉ có tâm tái tục và Danh Sắc đầu đời mỗi kiếp sống. Ở cõi hữu sắc thì đầu kiếp sống có Sắc pháp. Ở cõi Vô Sắc thì trước sau chỉ có Danh pháp mà thôi. Gom chung các cõi thì dầu sanh ra ở đâu cũng chỉ là sự hiện hữu của Danh Sắc, không còn gì ngoài ra nữa.
Danh Sắc duyên Lục Nhập Ở cõi Ngũ uẩn thì đôi lúc có đủ Lục Nhập (các cõi Dục giới), có lúc chỉ có 3 Nhập (các cõi Phạm Thiên Sắc giới hữu tâm). Còn ở cõi Tứ Uẩn (4 cõi Vô Sắc) thì chỉ có 1 Nhập là ý Xứ.
Nghiệp 5 uẩn dẫn đến tâm tái tục 5 uẩn, tâm tái tục 5 uẩn dẫn đến sự có mặt của 6 Xứ ở cõi Ngũ Uẩn. Người không ham thích trong 5 trần sẽ không tạo nghiệp ái qua 5 Xứ đầu tiên (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân) vì vậy tâm tái tục của họ cũng không chứa chủng tử của 5 Căn vật chất và khi sanh ra kiếp sau ở cõi Phạm Thiên, thức tái tục của họ cũng không tạo đủ 6 Xứ.
Người thích cảnh sắc thì gieo nghiệp có Nhãn Xứ. Thính ái gieo nghiệp có Nhĩ Xứ. Khí ái gieo nghiệp có Tỷ Xứ. Tức là thích trong cảnh nào (Tập Đế) sẽ tạo ra các Xứ tương ứng (Khổ Đế). Nói chung, Tập Đế kiểu nào sẽ tạo ra Khổ Đế tương đương.
Lục Nhập duyên Xúc Được gọi là 6 Căn vì có 6 Cảnh và 6 Thức. Được gọi là 6 Thức vì có 6 Căn và 6 Cảnh. Được gọi là 6 Cảnh vì có 6 Căn và 6 Thức. Sự gặp gỡ của 3 thứ này gọi là Xúc. Có nghĩa là nếu bỏ đi 6 Xúc thì không còn gì để gọi là chúng sanh và thế giới.
Xúc duyên Thọ Không khi nào có chuyện Xúc có mặt mà lại không có Thọ. Bên cạnh nhãn Xúc chắc chắn là nhãn Thọ. Bên cạnh thân Xúc chắc chắn là thân Thọ. Bên cạnh ý Xúc chắc chắn là ý Thọ. Còn đó là Thọ gì thì tùy trường hợp. Cái quan trọng là Xúc đóng vai trò điều kiện bắt buộc cho Thọ và Thọ được sinh ra từ Xúc. Dầu ta có là ai, phàm hay thánh, và dầu đó là cảnh gì, cảnh Siêu thế hay Hiệp thế, thì bên cạnh Xúc bắt buộc phải là Thọ. Nguyên tắc này áp dụng cho tất cả chúng sinh.
Thọ duyên Ái Đây là vấn đề cốt lõi của cái gọi là dòng luân hồi hay sự khác biệt giữa phàm và thánh. Với một nội tâm không có tu tập thì sau Thọ thường là Ái. Nhãn Thọ gắn liền với sắc Ái, thân Thọ gắn liền với xúc Ái.
Ái duyên Thủ Nói trên chi pháp thì Ái và Thủ chỉ là một, có điều là lúc thì Tham hợp tà, khi thì Tham ly tà mà thôi. Và cường độ khắn khít, thiết tha của tham ái được gọi là Thủ. Nên ở đây ta có thể nói Ái duyên Thủ rồi Thủ duyên Hữu cũng được, mà nói Ái duyên Hữu cũng không sai.
Thủ duyên Hữu Duyên ở đây có nghĩa là tham ái hiển hiện qua tam nghiệp. Chính tam nghiệp mới là Nghiệp Hữu. Tam nghiệp ở đây là Tâm Sở Tư tác động thân nghiệp, khẩu nghiệp hay ý nghiệp. Tính trên pháp chi thì Hành và Nghiệp Hữu giống nhau, nhưng khi nói đến nhân quá khứ thì ta gọi là Hành, khi nói đến nhân hiện tại thì ta gọi là Nghiệp Hữu. Đây là cách gọi tên để giải thích vấn đề.
Nghiệp Hữu duyên Sanh Từ Tâm Sở Tư trong Tam nghiệp nên mới có các tâm tái tục để làm nên một kiếp sống mới. Các Tâm Sở Tư trong Nghiệp Hữu là Tập Đế gián tiếp hay trực tiếp. Còn Tâm tái tục thì chắc chắn là Khổ Đế rồi.
Có nghĩa là khi hành giả biết 6 trần bằng tâm tham hay tâm thiện thì hành giả có thể quán chiếu rằng đây là Nghiệp Hữu, hoặc đây là Thọ duyên Ái, hoặc đây là Tập Đế hiện tại cho Khổ Đế tương lai.
Sanh duyên Lão, Tử Từ sự có mặt ở kiếp sống mới ta mới có các hệ lụy tiếp theo là già, chết, sầu, khổ. Không bao giờ có chuyện chỉ có sanh mà không có già và chết. Không có già theo cách Tục Đế thì cũng không có già theo cách Chân Đế.
Trên đây là phần trình bày sơ lược về giáo lý Duyên Khởi để làm nền tảng cho pháp môn Tâm Quán Niệm Xứ.

Trích Tâm & Thọ Quán Niệm Xứ (Mogok Sayadaw)
Kinh Nghiệm Tuệ Quán I