Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2021

Thinh Văn

 Thinh Văn

Trí tuệ và các hạnh lành khác như là thiền định, đa văn, v.v... trong hàng ngũ đệ tử Đức Phật được chia thành nhiều cấp. Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên là cấp 1, là 2 vị thượng thủ thinh văn, là 2 cái mái của ngôi nhà thánh chúng.

 

Rồi dưới cái mái nhà đó là 4 cây cột, là 4 vị đại đệ tử, là tứ trụ thinh văn, đó là cấp 2. Tứ trụ thinh văn gồm có Ngài Ca Diếp Mahā Kassapa đệ nhất đầu đà, Ngài Anuruddha đệ nhất thiên nhãn, Ngài Mahā Kaccāyana/Kaccāna đệ nhất về luận nghĩa, có nghĩa là Ngài giỏi về khả năng chia chẻ phân tích những câu nói vắn tắt của Đức Phật. Cũng theo trong chú giải đôi lúc Kaccāna là Kancana nghĩa là vàng ròng. Và vị thứ tư là Ngài Mahā Kotthika/Kotthita đệ nhất về vô ngại giải.

   

Cấp 3 là các vị Mahā Sāvaka là các đại thinh văn còn lại.

Cấp 4 thì khỏi nói là các thinh văn không có biệt hạnh. Biệt hạnh thí dụ như đệ nhất về cái này, đệ nhất về cái kia.

Tất cả những vị được gọi là đệ nhất dưới Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên đều tu 100 ngàn đại kiếp, còn Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên là 1 A tăng kỳ cộng với 100 ngàn đại kiếp. Có nghĩa là thời gian tu của các vị thinh văn khác chỉ bằng cái số lẻ của Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên thôi.

   

Thì trừ 2 vị thượng thủ là 2 cái mái nhà ra thì 4 vị kia là tứ trụ thinh văn, sau 4 vị này mới tới các vị khác. Ngay cả Ngài Anan cũng không nằm trong tứ trụ thinh văn. Những điều vừa nói là y cứ sớ giải Kinh Tự hoan hỷ thuộc Trường bộ kinh. Trường bộ là chánh tạng, còn sớ giải là tam tạng đời 2. Trong sớ giải giải thích như vậy, và cũng trong sớ giải này ta biết thêm câu niệm Phật "Namo Buddhanam" là "Kính lễ Chư Phật"; thay vì "Namo Buddhaya" là chỉ kính lễ một vị Phật.

Trích bài giảng KTC.7.38. Điều Phục
Kalama xin tri ân bạn elteetee ghi chép

Sữa Nặn Chanh

 Sữa Nặn Chanh

Buổi chiều đó đức Phật ngồi bên bờ sông, có ông chăn bò đi ngang, ông thấy Ngài ngồi trong nắng chiều vàng vọt, lẻ loi, cô độc, quạnh hiu. Ông mới nói: "Người ta có trâu bò, gia súc, vợ con, có khói bếp buổi chiều, có cơm tối với vợ con, như vậy mới vui. Còn Ngài không vợ con, không gia súc, nhà cửa, không có bữa cơm chiều, khói bếp... lấy gì vui?"

Phật trả lời: "Ngươi an lạc vì ngươi có tài sản, vợ con, có cơm chiều, có khói bếp. Ta an lạc vì Ta không có vợ con, tài sản, cơm chiều, khói bếp."

Trong kinh nói ông lão chăn trâu này là người đã tu nhiều kiếp, nên khi nghe như vậy, ổng ngẫm thấy có lý. Ổng hiểu rằng để có hạnh phúc, ổng đã phải trả rất nhiều cái giá đắt để có được niềm vui đó. Ổng bèn liệng cây gậy chăn bò và quỳ xuống: "Con xin từ nay cho đến ngày tắt thở, là đệ tử của Thế Tôn."

Nói thật là : lấy nhau vui 3 tháng, buồn 3 năm, khổ 1 đời.

Cái cười cái vui trong hôn nhân không có nhiều. Còn những lúc mình gồng gánh nhau nó nhiều lắm. Nếu ở một cự ly nhất định thì hôn nhân cũng hay hay, về cũng thương thương nhớ nhớ. Nhưng có điều sống chung thực tế rồi thì tan nát cũng dữ lắm. Bởi vì mình phải làm bao nhiêu chuyện để giữ được nhau. Giữ được nhau rồi thì sẽ nhiều đêm tự hỏi giữ được nhau để làm cái gì? Hồi mới quen nhau thì tự hỏi câu thứ nhất: làm sao để có được nhau? Có được nhau rồi thì lại hỏi câu thứ 2: làm sao để giữ được nhau? Còn câu thứ ba là: giữ nhau để làm gì? Và cuối cùng là câu thứ 4: làm sao để tống khứ được nhau? Trên đời này có rất nhiều dấu hỏi.

Người Tàu gọi trăng khuyết là sơ nguyệt. Người biết đạo mỗi lần nhìn vầng trăng khuyết ấy lại nhớ rằng đó là 1 dấu hỏi tượng trưng cho những câu hỏi:

* Tôi có mặt trên đời này để làm gì?
* Tôi từ đâu tới?
* Tôi là ai?
* Tôi sẽ đi về đâu? và
* Bây giờ tôi nên sống như thế nào? Nên làm gì?

Rất là quan trọng. Lẽ ra đời sống của chúng ta là một hành trình dày đặc những câu hỏi. Nhưng vì chúng ta đạo nghiệp mong manh, phước duyên lại mỏng nên chúng ta cứ vật lộn, quẩn quanh, quần quật với cơm gạo áo tiền. Rồi chúng ta quên đi rằng: Thật ra, ý nghĩa của đời sống là:

* Đời sống vô nghĩa
* Nếu nó ý nghĩa nào đó thì có chỉ có khi chúng ta quan tâm đến những câu hỏi.

Không có gì vô duyên cho bằng chúng ta sinh ra, khi nhỏ sống với ba mẹ, lớn lên có chồng có vợ, đi làm quần quật, cày như trâu tậu cái nhà bạc triệu rồi mỗi tháng trả bill. Mỗi tuần chỉ thấy cái nhà một hai lần vào cuối tuần. Có nhiều người thậm chí cuối tuần cũng không thấy cái nhà luôn vì bận ngủ, đi party, đám cưới, sinh nhật, thôi nôi, đầy tháng, tân gia với bạn bè, nhậu nhẹt về mờ trời không thấy cái nhà. Sáng thứ Hai đi làm tiếp. Mấy chục năm trôi qua để trả bill. Rồi đến một buổi nào đó, để cái bill lại cái nhà cho con. Trong đó ghi rõ: pay-off (đã trả xong). Còn nhiều người chưa trả xong thì con tiếp tục trả nợ. Bởi vậy ở Mỹ là vô thường lắm. Có khi để cái nhà lại mà con sợ muốn chết, vì có khi cái nhà đó trả chưa hết. Còn nhiều ông thì ráng trả cho hết. Trả hết rồi thì cái vô duyên lại ở bố mẹ. Cả đời đi làm để được cái nhà, pay-off xong để lại cho con rồi hai ông bà dắt nhau vô trại dưỡng lão ở. Ở được mấy bữa, có người đi trước, người kia ở lại. Nhiều khi vô được mấy bữa bị Alzheimer là quên sạch. Cả đời quần quật làm cho cái gì, bây giờ không nhớ. Cứ thế hệ này sang thế hệ khác. Bản chất của đời sống là vô nghĩa. Và nhiệm vụ của chúng ta là xác định được cái sự vô nghĩa đó của đời sống.

Tu Tứ Niệm Xứ là để xác định sự vô nghĩa của đời sống: Thế giới này là Khổ, Vô Ngã, Vô Thường. Nhưng vì những bức màn che khiến ta không thấy. Chúng ta cứ bị sự liên tục của tiếp nối che khuất khiến cho ta không tin, không ngờ, không tưởng, không biết được rằng mọi thứ là Vô Thường, luôn luôn trôi chảy như 1 dòng nước.

Các vị còn nhớ câu chuyện Khắc Chu Cầu Kiếm không?

Một cậu công tử đi trên chiếc thuyền qua sông. Đến giữa sông làm rớt thanh gươm. Kêu đầy tớ nhảy xuống mò. Người đầy tớ nói: sông sâu, nước chảy xiết; nhảy xuống là chết. Không sao, để con đánh dấu trên thuyền chỗ thanh gươm rớt, chờ vào bờ rồi xuống mò cho chắc ăn. Ông chủ mới nói: sao mày ngu vậy? Nó rớt ở đâu? Mày mò ở đâu? Mình đọc câu chuyện đó, có người nói đó là câu chuyện cười. Có người cười không nổi. Họ nói trên đời làm gì có người ngu dữ vậy? Nhưng họ quên rằng có ai trong chúng ta mà không ngu như tên đầy tớ ấy? Tại sao? Thanh gươm rớt ở đây. Nước thì chảy xiết. Thanh gươm rơi xuống đáy nước theo chiều xiên. Vì đó là một vật dài. Gươm rớt ở đâu mà nhảy xuống đó tìm thì đã nan giải. Huống chi là rớt ở giữa sông mà vô bờ tìm làm sao ra? Nghĩa là rớt một nơi, tìm một nẻo. Mình chửi tên đầy tớ là ngu nhưng mình cũng y chang như vậy.

Khi mình thương là thương người A mà khi mình cưới là cưới người B, quý vị có biết không?

Người mình quen, thấy dễ thương là một người khác. Cái người mà mình cõng về, cưới về là một người khác.

Cho nên người ta nói: Khi lấy nhau, đàn bà mong người chồng thay đổi, đừng như trước; đừng gặp ai cũng nhe răng ra cười. Còn đàn ông thì khi lấy nhau mong người vợ như trước; đừng thay đổi. Nghĩa là người đàn bà khi lấy chồng mong rằng chồng mình đừng ham chơi, lêu lổng như trước, đừng gặp cô nào cũng nhe răng ra cười. Họ mong rằng đàn ông sẽ thay đổi tốt hơn trước khi lấy mình. Nhưng riêng đàn ông thì khi cưới vợ về, họ mong rằng nàng cứ tiếp tục thùy mị đoan trang như hồi mới quen. Khi lấy về nàng mới lòi mấy cái nanh mà nàng đã giấu rất kỹ.

Tại sao tôi biết rành về phụ nữ như vậy?

Vì hấu hết những người hỗ trợ, nuôi cơm tui toàn là mấy bà. 40 năm. Trên dưới 40 năm!

Người nuôi tui là phật tử, người dưng mà trong đó đa phần là phụ nữ.

Cái thuở vô danh, đói nhăn răng, mình biết họ qua một bối cảnh cánh. Bây giờ có làm việc, có dự án, có plan, có project... mình biết họ qua một bối cảnh khác. Kinh dị lắm.

Họ có cái lạ là thà để mình đói nhăn răng, nhưng mà hễ có tên nào mà thò tay vô giúp mình là họ muốn giết cái tên đó. Mà khi tên đó rút lui rồi thì họ lại để mình đói tiếp. Đừng tưởng họ thương mình mà vì bản chất của họ là như vậy.

Tôi nói mà tôi đang rất là nản. Tôi mà thuyết 1 tuần là tôi bị diarrhea 5 ngày; toàn là đi re ban đêm. Lý do:

Mỗi khi tôi giảng như vầy là: 1 ly nước mía, 1 ly rau má, nước ngọt, ... đem vô. Mà nếu tôi uống cái ly gần nhất , không uống những ly còn lại là họ không có vui.

Cho nên là uống cho hết rau má, nước mía, nước ngọt ... Có người còn ở Việt Nam cho uống sữa ông thọ mà đập đá bỏ vô. Mà cái thứ này là thầy của đi re... coi như là thuốc imodium mà gặp thì cũng ngả nón từ xa.

Có lần đó tôi ngán quá mới nói thiệt: "Cô ơi, sữa ông thọ nó kỵ nước đá. Bỏ đá vô là nó đi đã lắm." Thì bà đó nói: "À quên ... quên nặn chanh!!!"

"Nặn chanh vô như vậy là nó thành ... Yogurt!!!" Khi mình nói như vậy thì thay vì nàng dẹp nàng không dẹp, mà nàng vẫn chơi tái bản có sửa đổi nội dung. Nàng chỉ đổi bìa thôi. Nàng làm sữa rồi nặn chanh vô.

Mà phải biết là nước chanh thì chỉ có tôi tự pha tôi uống. Người khác pha tôi ngán dữ lắm. Vì sao? Vì mấy người hay để móng tay. Mỗi lần họ năn chanh là mỗi lần họ rửa móng. Ớn muốn chết. Mà như tôi từng nói. Transparency là gì? Là sự minh bạch. Cái móng mà không sơn, nó dơ hay đóng đất mình còn thấy được. Còn cái thứ mà nó lấy sơn bôi lên rồi thì bà cố tôi không biết cái gì trong đó. Trước khi nặn chanh, tay nó dơ. Khi nó nặn xong tôi uống, tay nó sạch. Vậy thì cái dơ nó đi đâu?


Trích bài giảng tại Sydney Khái Niệm Về Vô Thường Vô Ngã Hành Giả Tứ Niệm Xứ
Kalama xin tri ân bạn dieulienhoa ghi chép


Sống Rốt Ráo

 


Sống Rốt Ráo

Người bị ung thư kỳ cuối hoặc người bị tuyên án tử hình, đặc biệt là cái tên tử tù sắp ra trường bắn, sắp ra bãi bắn, sắp lên ngồi ghế điện, sắp bị chích thuốc, thì cái chuyện đầu tiên là họ lìa bỏ tất cả những cái râu ria, đam mê, thích thú xưa giờ. Họ bỏ nhiều lắm. Lúc đó họ chỉ tập chú có một chuyện thôi, đó là làm sao sống. Đó, thì ở đây cũng vậy. Phải bằng một cái ý thức khốc liệt như vậy, hành giả phải sống với một cái nhận thức khốc liệt, cực kỳ nghiêm túc, không bị xen kẻ với tạp niệm, tục niệm, sống sít sao, sống rốt ráo với từng cái giây phút vô thường, bằng cái tâm trạng giống như một người bị ung thư kỳ cuối, không còn mong ước, không còn trông đợi, không còn dệt mộng nữa. Bằng cái sự rốt ráo ấy thì hành giả mới có dịp thấy được cái bản chất thật sự của thiện ác, buồn vui, của cái gọi là đời sống, của cái gọi là ông A, bà B, thằng Tèo, thằng Tý.

Còn đằng này, chúng ta còn yêu đời lắm: 40 thấy mình trẻ hơn 50, mình 50 mình thấy mình trẻ hơn ông 60, mình 60 mình thấy mình trẻ hơn ông 70, cứ thế, đã 70 rồi cũng lén lén nghĩ rằng mình trẻ hơn ông 80, và ông 80 ổng vẫn còn nghĩ rằng bác sĩ mới khen mình tuần rồi, mình rất là OK. Yeah! Bác sĩ mới khen, giấy tờ bằng chứng còn đây nè, giấy xét nghiệm, phiếu khám sức khỏe, bác sĩ xác định là mình OK.

Tới 80, các vị biết, cái niềm tin của mình về cuộc đời trông cậy vào những cái rất là buồn cười. Trông cậy vào cái khám bịnh của bác sĩ, tin cậy vào cái kết quả xét nghiệm được in trên một tờ giấy cực kỳ văn minh, tin vào cái chuyện mà buổi trưa nay mình ăn rất là ngon miệng, đêm hôm qua mình ngủ rất là ngon giấc, điều đó nghĩa là mình đang rất là OK, đấy. Chưa hết. Đến cái tuổi 80 rồi mà còn gọi là tìm cách nắm níu, nấn ná cuộc đời bằng cái chuyện rất là buồn cười. Có lúc mình yêu đời qua từng bữa ăn, quí vị biết không? "Bữa nay tôi ăn như vậy đó chứng tỏ tôi đâu có tệ. Đêm hôm qua coi như 10 giờ tôi đã ríu ríu mắt tôi ngủ đầy giấc, ngủ no giấc, ngủ thẳng giấc, ngủ không có giựt mình nửa đêm, không có tiểu đêm. Như vậy là tốt quá tốt. Sức khỏe như vậy là tốt quá. Biết bao nhiêu cụ trang lứa với tôi, cũng 80 như tôi mà đâu được vậy."

Một người mà còn sống với một ý thức hồn nhiên, bằng sự trông cậy thơ ngây như vậy, trong cái nỗi đời hư ảo chiêm bao thì chưa khá. Nói như vậy không có nghĩa là hành giả phải sống bi quan, sống trong sợ hãi. Không phải vậy. Mà là phải sống trong sự tỉnh táo. Hai cái khác nhau nhiều lắm. Một người họ thường xuyên nghĩ về cái già cái chết để họ run, họ sợ, họ tiếc nuối, họ hoảng hốt. Còn một người họ nghĩ về cái chết, họ luôn luôn trong tình trạng sẵn sàng ra đi. Đó là cái tôi muốn nói. Đó là cái mà Đức Phật đề nghị mình sống như vậy. Khi mình ý thức được mình đang sửa soạn sắp ra đi, thì mình sẽ dễ dàng tập chú vào cái chuyện cần làm, cần nói, cần suy nghĩ, cần bận tâm, cần thực hiện. Đấy, tập chú bao nhiêu đó thôi. Cái gì nó không thật sự cần thiết thì dầu mình thích cách mấy đi nữa, cũng để nó qua một bên, nha. Thì cái đó được gọi là đời sống rốt ráo của một hành giả.

Đó là đoạn trừ được thường kiến; là mình phải tu tập quán vô thường tưởng.

Trích bài giảng KTC.6.99 Khổ
Kalama xin tri ân bạn elteetee ghi chép.

Sân Si

 


Sân Si

Tâm Sân (dosamūlacitta)

Một cách đơn giản, tâm Sân có hai trường hợp:

1. Sự bất mãn tự phát:

Tâm sân thọ ưu hợp phẩn vô trợ

(domanassasahagataṃ paṭighasampayuttaṃ asaṅkhārikam)

Hình ảnh minh họa: sự lo ngại của người mẹ về đứa con gái của mình.

2. Sự bất mãn do được tác động, kích thích bởi người khác hay sự chần chừ của bản thân:

Tâm sân thọ ưu hợp phẩn hữu trợ

(domanassasahagataṃ paṭighasampayuttaṃ sasaṅkhārikam)

Hình ảnh minh họa: tâm trạng khó chịu của đứa con trai khi được ông bố phân tích cho biết cậu đã bị ai đó lừa dối.

Tâm Si (mohamūlacitta)

1. Trạng thái nghi hoặc về bất cứ vấn đề gì có liên hệ đến Tam Bảo:

Tâm si Hoài Nghi

(upekkhāsahagataṃ vicikicchāsampayuttaṃ).

Hình ảnh minh họa: một người thiếu tin tưởng về nghiệp lý.

2. Trạng thái tán loạn của tâm thức:

Tâm si Phóng Dật

(upekkhāsahagataṃ uddhacca-sampayuttaṃ).

Hình ảnh minh họa: một cậu học trò không có khả năng tập trung khi thầy giảng bài.

Tâm sân luôn luôn là ưu thọ (domanassa-sahagataṃ). Tâm Si luôn luôn là xả thọ (upekkhā-sahagataṃ).

Nói trên con số thì tâm bất thiện chỉ có 12 so với tâm thiện có đến vài chục loại, nhưng trong đời sống thường nhật của phàm phu thì sự xuất hiện của chúng chiếm đến phần lớn thời gian. Cơ hội cho thiện tâm thường rất nhỏ, có thể chỉ là một trên nhiều tỷ. Bên cạnh hàng tỷ lần xuất hiện của tâm tham trong những giây phút mà phàm phu cho là toại ý thì cũng có đến hàng tỷ lần xuất hiện của tâm sân trong một ngày cho những giây khắc mà phàm phu bất mãn chuyện này chuyện nọ.

Trích Triết Học A Tỳ Đàm.


Samaya jhāna

 


Samaya jhāna

KTC 6. 8. 72. Sức Mạnh
Thành tựu sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo có thể có thể đạt được sức mạnh trong Thiền định. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thiện xảo đạt được Thiền định, thiện xảo an trú được Thiền định, thiện xảo xuất khỏi Thiền định, làm việc có chu toàn, làm việc có kiên trì, làm việc có lợi ích.AN 6. 8. 72. Balasuttaṃ
‘‘Chahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo samādhismiṃ balataṃ pāpuṇituṃ. Katamehi chahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu samādhissa samāpattikusalo hoti, samādhissa ṭhitikusalo hoti, samādhissa vuṭṭhānakusalo hoti, sakkaccakārī ca hoti, sātaccakārī ca, sappāyakārī ca. Imehi kho, bhikkhave, chahi dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo samādhismiṃ balataṃ pāpuṇitu’’

Trong bản Tiếng Việt gọi là "đạt được sức mạnh trong thiền định". Nhưng ở đây tôi dịch cho nó mềm, cho nó ít, cho nó gọn hơn: khi có được 6 cái này nè thì vị ấy mới có thể được "tự tại trong thiền định". Tự tại là sao?

Trong chú giải cho mình biết có hai loại thiền định: một là samaya jhāna là thường trụ thiền và hai là asamaya jhāna là tạm trú thiền, chữ này rất là kỳ nhưng tôi sẽ giải thích tại sao là tạm trú.

Thường trụ thiền, samaya jhāna, ở đây là trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh thiền giả muốn vô là vô, muốn ra là ra. Muốn vô thiền vô một cái rẹt, muốn ra là ra cái rẹt. Đó gọi là thường trụ. Coi như là mình có quốc tịch luôn, có passport luôn. Có nghĩa là muốn vô là vô, muốn ra là ra.

Còn cái trường hợp thứ hai, asamaya jhāna, là tạm trú thiền giả. Vị này chỉ có xài cái "visa entrée" thôi. Có nghĩa là mỗi lần muốn vô phải đi xin, lôi thôi mệt lắm, nhiều khi nó cho, nhiều khi nó không có cho. À quên nữa. Giảng xong chiều nay tôi phải vô điền cái đơn để mà xin cái visa vô Miến Điện. Khổ quá đi. Mỗi lần đi vô phải xin mệt quá mệt. Chứ nếu bây giờ mình có được cái visa 5 năm của Việt Nam là mình hỏng có cần. Miến Điện nằm trong khối Asia mình khỏi có cần đi xin lẻ tẻ. Còn đằng này mình không có cái đó cho nên mỗi lần muốn về Miến Điện phải đi xin mệt quá. Mà tôi không có nói lạc đề đâu. Tôi đang muốn nói cái gì các vị thấy không? Tôi đang muốn nói một chuyện là chỉ vì mình không có đủ giấy tờ, mỗi lần vô nó mệt quá. Có nhiều lần tôi đi từ Thái Lan, tôi phải xếp hàng ở cái chỗ chờ ở đại sứ quán, xếp hàng mệt muốn chết luôn vậy đó.

Thì ở đây cũng vậy, một vị đắc thiền có hai trường hợp. Thứ nhất gọi là samaya vihari là thường trụ thiền giả, có nghĩa là sao ta? Có nghĩa là muốn vô là vô, muốn ra là ra bởi vì người ta có passport, người ta có visa dài hạn. Còn cái loại thứ hai là asamaya vihari có nghĩa là ra vô rất là khó.

Cho nên đây là lý do vì đâu mà có cái vụ đệ nhất thần thông là vậy đó. Cái vị đệ nhất thần thông là vị đó có thể trong tích tắc sử dụng rất nhiều cái đề mục và biến hiện vô số loại thần thông khác nhau. Có những loại thần thông phải được thực hiện bằng đề mục đất, nước, lửa, gió, hư không, áng sáng, xanh, vàng, đỏ trắng. Mà nếu vị nào giỏi, vị đó có thể trong tích tắc "muốn, muốn, muốn." Chỉ muốn là được, chỉ muốn là được. Nhớ nha. Còn vị nào mà dỏm quá là phải nhập từng thứ, chun ra, chun vô, chun ra, chun vô ... nó mệt dữ lắm, nha. Người ta nhập, người ta chỉ muốn là được. Còn mình phải vạch rào, chun qua bên màu xanh; rồi vạch rào chun ngược lại màu vàng; leo rào qua màu đỏ; rồi mới leo rào trở lại màu trắng; ... nó lâu lắm. Còn người ta chỉ ngồi yên người ta "muốn, muốn, muốn, muốn." là xong, nha.

Đây cũng vậy, trong kinh nói cái vị mà samaya vihari là cho dù trời nóng, lạnh, bản thân bệnh hoạn, thời tiết, nhức răng, lòi ruột, lòi phèo vẫn có thể muốn là nhập định tỉnh bơ. Nhiều vị tuy có bệnh đó, máu me tè le vậy đó, nhưng mà muốn nhập là nhập được liền.

Có lần Đức Phật Ngài đến thăm Ngài A xà chí bị bệnh. Ngài hỏi "A xà chí có thấy bớt được chút nào không?" Thì Ngài A xà chí nói "Dạ nếu mà hôm nay con còn giữ được cái tầng thiền samatha nào đó thì con không có bị đau như thế này." Mặc dù Ngài là vị Thánh rồi đó nhưng mà Ngài vẫn nói như vậy "Nếu mà hôm nay con còn giữ được ..." Tại vì trước đây Ngài có đắc rồi. Trong chú giải nói Ngài có đắc rồi nhưng Ngài không có giữ lại, không có duy trì cái tầng thiền mà Ngài đã đắc. Cho nên hiện giờ Ngài là người không có thiền. Ngay giây phút này nếu mà Ngài còn giữ được cái tầng thiền sơ, nhị, tam, tứ là Ngài nhập vô đó một phát là coi như, bệnh thì vẫn bệnh thôi chứ không phải nhập thiền là hết bệnh, không phải vậy, nhưng mà lúc bấy giờ là đã phiêu diêu cõi ngoài, phiêu bồng thoát sái. Xác mình nằm ở đó nhưng tâm mình hoàn toàn an trụ trong cảnh thiền mình không biết đau là gì hết. Đó! Cái trường hợp đó được gọi là thường trụ thiền giả.

Còn cái hạng thứ hai là tạm trú thiền giả, asamaya vihari, có nghĩa là phải kiếm chỗ ngồi đàng hoàng, trong điều kiện thời tiết, khí hậu ngon lành, thực phẩm đầy đủ, rồi thầy bạn, rồi liêu cốc; nói chung là y áo phải thoải mái, rộng rãi, mát mẻ. Rồi ngồi từ từ nó mới vô, vô từ từ, hoặc là vô được thoải mái đó nhưng phải chậm.

Còn cái vị kia muốn là được, cứ muốn là được. Thì đó gọi là tự tại trong thiền. Ở đây Ngài Minh Châu dịch là "đạt được sức mạnh trong thiền".

Trích bài giảng KTC.6.70 Thần Thông
Kalama xin tri ân bạn elteetee ghi chép


Rác

 Rác

Trong Kinh nói như một bờ cát không có chỗ đọng nước thì nước đánh lên rồi nước rút đi, bờ cát phẳng lì như cũ. Khi trên bờ cát có những chỗ đọng nước thì nước đánh lên có chỗ nó đọng. Có nhiều người giống như bờ cát phẳng, nước đánh lên mà không có chỗ cho nó đọng. Đối với Phật Pháp thì mình cần có chỗ mình chứa nước, chứa Pháp. Nhưng đối với chuyện đời mình có nên để nó đọng lại không? Cho nên người Phật tử có lúc phải giữ cái tâm mình như nền nhà bằng đất, có lúc phải giữ tâm mình như nền nhà bằng gạch.

Giữ tâm như nền đất là sao? Là có bao nhiêu bụi rớt trên đó nó cũng không làm phiền gia chủ vì đất và bụi nó là một, một cha một mẹ. Có lúc ta phải giữ tâm như nền nhà bằng đất, để chi? Để chuyện đời nó ra sao mình vẫn dửng dưng. Nhưng có lúc ta phải giữ tâm như nền gạch. Tại sao? Vì trên cái nền nhà gạch một tí cát, một tí bụi, một tí rác ta thấy ngay. Nhưng có những nơi chốn một tí bụi, một tí rác ta không thấy. Thí dụ như mình ở ngoài bãi cỏ rộng, một nắm cỏ khô mình không phát hiện được, vì cỏ tươi và cỏ khô là một và nhất là một nắm cỏ trên một bãi cỏ nó không đáng gì hết. Nhưng nếu trên bãi cỏ đó có một tờ giấy, một bao nylon, một cái chai, cái lon nước mình thấy liền vì những thứ đó với cỏ là khác nhau.

Nếu mà mình sống nhiều bằng tâm thiện thì khi cái tâm bất thiện xuất hiện thì nó trở thành cái bao nylon trên sân cỏ. Còn nếu mình sống nhiều bằng tâm bất thiện thì giống như một nắm cỏ rớt trên sân cỏ. Cho nên điều quan trong đối với hành giả tôi vẫn luôn kêu gọi là sống chánh niệm, dầu các vị theo truyền thống tuệ quán Tứ Niệm Xứ nào. Trong Tương Ưng Bộ kinh, phần Tương ưng Niệm xứ, Đức Phật dạy rất rõ rằng chư Phật ba đời mười phương nhờ Tứ Niệm Xứ mà đắc Đạo và khi đắc rồi chư Phật ba đời mười phương cũng sống trong Bốn Niệm Xứ. Lý do đơn giản là một người liễu Đạo không thể sống thất niệm. Điều thứ hai là ngoài đời sống chánh niệm ra không còn đời sống khác. Chỉ vậy thôi không có gì cao siêu hết. Một là một người sống chánh niệm không thể sống thất niệm. Thất niệm là một thứ phiền não mà giờ họ hết phiền não rồi làm sao họ sống thất niệm được? Rõ ràng cũng không còn một đời sống nào khác dành cho người đã đắc Đạo.

Trích bài giảng Bốn Hạng Học Đạo
Kalama xin tri ân bạn hongha7711 ghi chép

Quả Ác

 


Quả Ác

(VII) (81) Ðịa Ngục

Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là sáu? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, ác dục và tà kiến. Thành tựu sáu pháp này, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

7. 81. Paṭhamanirayasuttaṃ

‘‘Chahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato yathābhataṃ nikkhitto evaṃ niraye. Katamehi chahi? Pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti, musāvādī hoti, pāpiccho ca, micchādiṭṭhica. Imehi kho, bhikkhave, chahi dhammehi samannāgato yathābhataṃ nikkhitto evaṃ niraye.

Tội lỗi một đổi một triệu.

Thí dụ như mình thấy Ngài Mục Kiền Liên do kiếp quá khứ nghe lời vợ mà giết cha, giết mẹ. Tôi nói cái này thì nó hơi ác chút nhưng đó là sự thật. Bố mẹ Ngài lúc đó cũng già rồi, mù nữa, già yếu bệnh hoạn rồi. Thì cái đời của họ lúc đó cũng đâu còn gì hay, sống thêm nó cũng không có gì vui, mà nó cũng không có gì lâu, lâu chẳng được bao nhiêu, bởi vì già rồi, mà bệnh hoạn, mù lòa tăm tối. Có nghĩa là quảng đời còn lại, thứ nhất không dài, thứ hai cũng không có gì vui, mịt mù lắm. Vậy đó, mà khi Mục Kiền Liên Ngài giết cha mẹ, đoạt mạng cha mẹ rồi thì Ngài bị đi địa ngục suốt một tiểu kiếp, xong rồi Ngài trở lên thì chỉ có chết thảm không biết là bao nhiêu trăm ngàn kiếp. Bị đánh đập tàn phế, ruột phèo lòi ra, lòi mắt, lòi óc, khiếp như vậy đó, mà suốt nhiều kiếp. Đã xuống địa ngục chưa đủ, trồi trở lên làm người không biết bao nhiêu ngàn kiếp bị chết thảm. Mà chưa đâu, cái này mới ghê nè, cuối cùng đắc được quả vị La Hán đệ nhất thần thông, được sống gần vị chánh đẳng chánh giác, cơ hội thành tựu mấy cái này đâu phải dễ. Đã được sống gần vị chánh đẳng chánh giác, được gặp mặt vị chánh đẳng chánh giác như ý mình muốn, Ngài muốn gặp bao nhiêu cũng được, mà lại làm vị A La Hán đệ nhất thần thông, được nhân thiên muôn cõi kính ngưỡng hết lòng, hết mực mà không thể nào thoát được cái nghiệp cũ, phải bị người ta băm dằm ra như là tương tàu. Trong kinh nói 500 tên cướp thay phiên nhau mà nó bằm, nó xắt, tại vì nó nói cái ông này thần thông giỏi lắm, chỉ cần còn lại miếng nhỏ nhỏ ổng cũng hoàn hình lại được nữa, cho nên nó bằm ... cho nát như tương xay, quí vị tưởng tượng cứ một người làm chục nhát thôi ... thì còn cái nước non nào nữa. Thì cái tiếc ở đây, dĩ nhiên Ngài OK rồi, Ngài không có tiếc, không có hận, không có oán than gì hết, nhưng mà lấy mình nè, mình nhìn coi có phải một trả một triệu không? Tức là giết người có một lần đó thôi, mà là giết hai ông bà già, sống không còn bao lâu, lại đui mù tăm tối nữa, mà cái quả nó trả không biết là bao nhiêu.

Thì cái chuyện trộm cắp cũng vậy, để mà lắp đầy cái chỗ thiếu vật chất mà mình sang đoạt của người khác thì cái quả trổ không biết là bao nhiêu Đời đời sanh ra nghèo đói, đời đời sanh ra bị mất mát, mất trộm, leo cây hái trái liệng xuống bao nhiêu bạn nó quất hết; đi buôn bán bạn cùng bọn, cùng phường nó cũng gạt lấy hết; rồi bị tịch biên gia sản, bị vu oan giá họa; đáo tụng đình, hao tốn tiền bạc, tài sản không biết là bao nhiêu, cứ có cơ hội là tiền bạc đội nón ra đi sạch sành sanh. Tại sao? Bởi ngày xưa có cái lòng sang đoạt người khác. Như các vị thấy cái vụ kiện Trung Nguyên là mình thấy nhức đầu rồi. Đó. Giàu như vậy cũng đâu có ngồi yên mà hưởng, kiện tới kiện lui, kiện tới kiện lui, kiện tới kiện lui, dứt khoát khi mình thua kiện thì mình mất sạch. Đó là đáo tụng đình, chưa kể bị lừa đảo, bị tịch biên oan ức, v v…

Các cái giới sau cũng y chang như vậy mà hiểu, có nghĩa là một trả một triệu, một trả một triệu, là vậy đó.

Và cái sau cùng mới là quan trọng, có nghĩa là khi mà chúng ta tạo các ác nghiệp như trong đây kể thì vấn đề nó không phải đơn giản là mình tạo cái nghiệp đó rồi mình bị mấy cái quả xấu tương ứng là xong. Không, không phải như vậy. Hiểu như vậy thì hiểu nghèo quá. Phải hiểu vầy mới ghê nè: Chính vì mình tạo các tội lỗi này mình mới bị đẩy vào những cái hoàn cảnh tăm tối, mù mịt, và ở những hoàn cảnh đó ta có tới một tỷ cơ hội để chúng ta tiếp tục sống bất thiện.

Cái chuyện mà quí vị làm ác đó, cái chuyện làm cái tội lỗi nào đó, mình cứ giả định đi, là nó không có gì ghê. Đúng, nó không có gì ghê đâu, nhưng mà cái ghê là ở chỗ từ cái tội ác đó, nó đẩy mình vào những hoàn cảnh tái sinh, mà ở đó cơ hội sống thiện rất là ít. Các vị nghĩ tới cái này các vị mới run. Cái cơ hội sống thiện rất là ít, mà cơ hội sống ác coi như là bao la. Nói vậy nó mới run. Chớ còn cái chuyện tôi đi sát sanh, tôi đi trộm cắp, cái đó cứ cho là cái quả tôi sát sanh kiếp sau tôi sanh ra tôi yểu thọ vậy thôi, tôi bệnh hoạn, bệnh tật; hoặc như tôi trộm cắp kiếp sau sanh ra tôi bị mất mát tài sản vậy thôi; tôi cho nặng lắm tôi đi địa ngục. Nhưng mà nó khổ một cái chỗ không phải chỉ như vậy, mà chính cái quả xấu của các tội lỗi nó đẩy mình đi vào những cái hoàn cảnh, những cái môi trường sống cực kỳ tệ hại, những cái môi trường sống ác dễ hơn thiện.

Đừng có nói cái môi trường nào ghê gớm, nội mà sanh vô trong gia đình nhà nghèo thôi là đủ chết rồi. Nghèo quá bán mất sĩ diện, bán mất nhân phẩm, nghèo quá đâu có điều kiện đọc sách, đâu có điều kiện đi học, rồi bạn xấu rủ rê, ma túy, xì ke, buôn lậu đồ quốc cấm độc hại để vào tù ra tội, xử bắn, tử hình, coi như là phần lớn 99% là những cái người mà dây dưa với tù tội, đa phần là do nghèo. Chỉ riêng cái nghèo thôi đó là cũng đủ cho quí vị tan nát cuộc đời rồi chớ đừng có nói những cái tội khác. Bệnh quá muốn cho hết bệnh thì chuyện gì cũng làm, nếu mà mình tin rằng làm cái chuyện bậy đó mà hết bệnh. Rồi từ cái chỗ mình bị cái nghiệp nói dối đi, mình vu oan giá họa người khác thì đời đời sanh ra có nhiều khi vì vu oan giá họa mà mình bị không biết bao nhiêu cái khổ đau mình không có lường được.

Cho nên bản thân cái quả xấu của hành động tội lỗi đã đáng sợ rồi, đã rùng rợn rồi, nhưng mà cái rùng rợn hơn nữa đó chính là do quả báo của những tội lỗi ấy, ta bị xô đẩy vào những bến bờ tăm tối, bị xô đẩy vào những hoàn cảnh, những môi trường sống mà ở đó ta chỉ có thể làm ác chớ còn không có cơ hội sống thiện, đại khái như vậy.

Chính vì chỗ này cho nên một người mắc vào những tội lỗi vừa kể trong kinh là không có ngoi đầu lên được, phải bỏ mấy cái đó mới khá.

Trích bài giảng ngày 12.06.2019 KTC.6.80 Lớn Mạnh
Kalama xin tri ân bạn elteetee ghi chép